Home

LUẬN ĐỀ: CHỦ QUYỀN – QUYỀN LỰC – QUYỀN LÝ THEO DUY DÂN

 
Cơ Năng Chính Trị Luận – Hành Chính Tức Quyền Pháp Luận
 
Đây là chỗ Lý Đông A nói rõ nhất về quốc gia không phải là cái nhà nước trên giấy, mà là xương thịt của dân tộc, là hệ quả của luân hồi tinh vi, là Vạn Việt, Thập Việt, là [dấu chữ] ‘S’.
Quốc gia là một cơ cấu có xương thịt, góp kết nên bằng sự vận động của dòng sống dân tộc và dân chúng trên suốt lịch sử thực tiễn.
Quốc gia có xương thịt là vì quốc gia được góp kết bằng dòng sống là Nhiên và xã hội vận hành giao thoa, là Vô Ký Tính Vô Ký Ý Thức, là máu và hồn sử, là ta sống mãi muôn năm ở trong ta, là sông bồi đất thịt, là Vạn Việt và Thập Việt, là S. Không có dòng sống đó thì quốc gia chỉ là hư danh.
Quốc gia như thế chỉ là hư danh, đời sống dân tộc với dân chúng mới là thực thể, mà đời sống thực tiễn đó không trệ lặng, phải động tiến theo quy tắc của Duy Dân Biện Chứng Pháp.
Thực thể là dân tộc và dân chúng là Bản vị, là whole unit, là một tổng thể thống nhất bền chặt có hoạt động đặc thù. Bản vị dân tộc là để đối kháng lại Quốc tế Cộng sản đòi xóa dân tộc để đại đồng. Lý Đông A nói muốn đại đồng phải đi 3 bước: Tiểu đại đồng là mỗi dân tộc hướng tâm vận động, Trung đại đồng là tập đoàn an toàn, cùng sống, giúp tiến, liên phòng, Đại đại đồng là cộng đồng nhân loại bình đẳng. Không thể xóa dân tộc mà đại đồng được. Đó chính là Vạn Việt và Thập Việt.
Trệ lặng là ngưng trệ không sinh động. Phải động tiến theo Duy Dân Biện Chứng Pháp, là Vật-Tâm-Sức, Nhân Duyên Quả, Biết Làm Nghiệm, Chủ Thể Trung Gian Khách Thể, Hiện Tại Quá Khứ Vị Lai, Bối Cảnh Tiềm Cảnh Viễn Cảnh, Hư Số Thực Số Nhân Số, Sáng Ý Quyết Đoán Thực Hành, là Thời Gian với Tiến Hóa Đối Lập Thống Nhất, là sống là đang còn và không còn, chết là không còn mà cũng không hết, là S.
 
I. CHỦ QUYỀN LÀ GÌ?
“Vì thế chủ quyền là tổng tác dụng của cuộc vận động của đời sống thực tiễn dân tộc và dân chúng trên lịch sử và văn hóa thực tiễn dung đúc nên một mối thống nhất của cả ý thức với kinh tế, biểu hiện ra bằng sự quyết định, nhận rõ, dẫn dắt và xếp đặt đời sống và đường đi lịch sử và thế giới của tự mình.”
Nói dễ hiểu:
– Chủ quyền không phải là cái con dấu của nhà nước. Chủ quyền là tổng tác dụng của dòng sống.
– Dòng sống đó dung đúc lịch sử và văn hóa thành một mối thống nhất của Ý thức, là lý trí tình cảm ý chí, là Vô Ký Ý Thức, là Sách Ước Vô Tự Bia và Kinh tế là cơ nghiệp năng lực vũ lực, là Vô Ký Tính, là Nguyên Liệu, Tài Liệu, Động Lực.
– Thống nhất Ý thức với Kinh tế chính là Cương Thường, là Thực Kiến Tướng, là Gậy Thần cầm ở giữ,a là S, là Vạn Việt và Thập Việt.
Biểu hiện của chủ quyền là 4 việc: Quyết định – Nhận rõ – Dẫn dắt – Xếp đặt đời sống và đường đi lịch sử và thế giới của tự mình. Đó là Sáng Ý-Quyết Đoán-Thực Hành, là Dự Kế-Chấp Hành-Khảo Hạch, là Nghiên Cứu-Hội Thông-Sáng Định.
Chủ quyền là cái tổng tác dụng của quốc gia coi làm bản vị; sự quyết định chủ quyền ký thuộc vào đâu chỉ trông đến sự vận dụng bằng Duy Dân Biện Chứng Pháp của các cơ năng, tầng cấp và thế hệ của dân tộc trên mỗi kết hợp.
Chủ quyền ký thuộc vào đâu là chủ quyền nằm ở đâu? Không nằm ở vua, không nằm ở đảng, mà nằm ở sự vận dụng Duy Dân Biện Chứng Pháp của các cơ năng tầng cấp thế hệ trên mỗi kết hợp là hiện đại có cả quá khứ và tương lai như sông bồi đất thịt, là luân hồi tinh vi.
Bản vị là quốc gia là cơ cấu xương thịt, cơ năng là ý thức với kinh tế, tầng cấp là cá nhân-xã hội-dân tộc, thế hệ là quá khứ-hiện tại-vị lai, là Vạn Việt và Thập Việt, là S.
 
II. QUYỀN LỰC LÀ GÌ?
“Quyền lực như thế là sự nối duỗi của các chủ quyền ra thực tiễn bằng bắt buộc và thói quen. Sự phục tòng của các cơ năng trong dòng sống quyết định cái tồn tại của quyền lực, pháp lực với chính trị.”
Nói dễ hiểu:
– Chủ quyền là tổng tác dụng ở trong lòng dân tộc, là Thể, là Thực, là Nhiên và Xã hội.
– Quyền lực là cái nối dài của chủ quyền ra ngoài thành thực tiễn, là Dụng, là Tướng, là phải có bắt buộc và thói quen.
Bắt buộc là Vũ lực, là Nộ để tự vệ, là đầu tử của Gậy Thần, thói quen là cơ nghiệp năng lực, là Hỷ để sinh, là đầu sanh của Gậy Thần.
Quyền lực sống được hay không là do các cơ năng trong dòng sống có phục tòng không:
– Phục tòng về lý trí
– Yên tâm về ý chí
– Ủng hộ về tình cảm
Ba cái này chính là Vô Ký Ý Thức, là ý chí, là không chết mà ý chí là bộ mặt của lý tưởng mình, là hồn sử, là ta sống mãi ở trong ta. Dân có phục tòng yên tâm ủng hộ thì quyền lực mới tồn tại. Dân không phục tòng thì quyền lực chết, dù có súng.
Chỉ có một dân chúng sống đời sống bình sản kinh tế và có sẵn một tổ chức cỗi gốc theo tinh thần vô chính phủ của nền dân chủ Duy Dân, phối hợp với cách giáo dục kiện khang mới tái lập được một trạng thái quyền lực ở toàn dân và phục tòng bởi toàn dân.
– Bình sản kinh tế là kinh tế bình đẳng về sản nghiệp, là ai cũng có cơ hội nghĩa vụ quyền lợi thống nhất, là Nhân Quyền.
– Tổ chức cỗi gốc theo tinh thần vô chính phủ là dân tự chủ-tự giác-tự động sống mà không cần cảnh sát răn đe mới tôn trọng luật, như người Nhật xếp hàng không cần cảnh sát. Đó là xã hội tự tính, là tự động điều tiết.
– Giáo dục kiện khang là giáo dục khỏe mạnh, là Sáng Ý-Quyết Đoán-Thực Hành, là Nghiên Cứu-Hội Thông-Sáng Định.
Có 3 cái đó thì quyền lực ở toàn dân và phục tòng bởi toàn dân, là dân chủ Duy Dân thật, là Đại Đồng Thái Dịch.
 
III. QUYỀN LÝ LÀ GÌ?
“Sự đạp đổ hai giới vạch của thống trị với bị trị làm cho quyền lý được xã hội hóa và quyền lực thích ứng với cái thực thể của đời sống quốc gia có sinh mệnh tiến hóa và chính nghĩa.”
Giới vạch thống trị với bị trị là vạch kẻ kẻ cai trị và người bị trị, như Duy Vật nói đấu tranh giai cấp và Duy Tâm nói tông giáo pháp droit divin.
Đạp đổ hai giới vạch đó thì:
– Quyền lý được xã hội hóa: Quyền lý là lý của quyền, là lẽ phải của quyền, là Cương Thường, là Thực-Kiến-Tướng, là nhân loại pháp droit humain bảo chướng cho sống và vinh dự loài người. Xã hội hóa là ai cũng có quyền lý, ai cũng hiểu lẽ phải, không phải chỉ vua quan mới có lý.
– Quyền lực thích ứng với thực thể của đời sống quốc gia có sinh mệnh tiến hóa và chính nghĩa: Quyền lực không còn là hư danh mà thích ứng với xương thịt của dân tộc, là Bản vị, là Vạn Việt Thập Việt, là S, là sinh mệnh tiến hóa, là Thái Dịch và chính nghĩa, là Đại Đồng.
“Loài người sống theo nguyên tắc và cách thức loài người, không phải là Duy Vật hay Duy Tâm, cho nên pháp luật là pháp luật loài người, pháp luật không thể là Vật Chất Pháp hay Mặc Khải Pháp được.”
Vật Chất Pháp là loi physique, là Duy Vật hỏng gốc, Mặc Khải Pháp là loi Révélée, là Duy Tâm hỏng ngọn. Pháp luật loài người là Cương Thường, là Thực Kiến-Tướng, là S, là Vạn Việt Thập Việt, là luân hồi tinh vi.
“Pháp luật là cái tác dụng biểu hiện tất cả các thi thố của chủ quyền, cái chủ quyền ấy vận động theo sinh mệnh với thực hiện.”
Pháp luật là tác dụng của chủ quyền, là Hiến Chương cho đến Công Pháp Tư Pháp đều là thói quen và bắt buộc, là nối duỗi của chủ quyền.
“Cho nên chính trị của Duy Dân Chủ Nghĩa và Cơ Năng Hiến Pháp đúng như nguyên tắc trên mà suy diễn ra, chối bỏ hết định luật của Duy Tâm, Duy Vật với Duy Sinh và Thực Dụng Chủ Nghĩa. Chính Trị là thiết kế và chấp hành Dân Sinh. Giáo Dục là khởi điểm và chung điểm của Chính Trị.”
Chính trị là thiết kế và chấp hành Dân Sinh, là Dân Sinh Thực Hiện Sử Quan, là sử quan lấy dân sống thực hiện làm trung tâm, là Dân Sinh, là gốc.
Giáo dục là khởi điểm và chung điểm của chính trị vì giáo dục là Nghiên Cứu Hội Thông Sáng Định, là Sáng Ý Quyết Đoán Thực Hành, là tạo ra Vô Ký Ý Thức, là hồn sử, là ta sống mãi ở trong ta, là ý chí không chết.
“Bản vị là xã hội sinh hoạt; cơ năng là ý thức với kinh tế; sinh mệnh là nhân tính, thực hiện phải bằng cả đôi đường hôn phối và kinh tế, hai nhân tố bằng số học nguyên lý quy định một chính trị đúng hay dở.”
Bản vị là xã hội sinh hoạt, là Vạn Việt Thập Việt là S. Cơ năng là ý thức với kinh tế là Vô Ký Ý Thức và Vô Ký Tính là hồn sử và máu. Sinh mệnh là nhân tính là 4 Nhân tính: An thích, Hòa bình, Tự vệ, Sinh sản. Thực hiện bằng hôn phối và kinh tế là bằng số học, là Hư Số-Thực Số-Nhân Số, là Tiểu biến pháp 10 năm, Đại biến pháp 30 năm Quốc thể Tổng Điều tra 6 năm.
Tóm lại một câu dễ hiểu:
– Chủ quyền là tổng lực sống của cả dân tộc qua lịch sử văn hóa gồm cả óc và của cải hợp lại thành một khối, biết tự quyết định đường đi của mình. Chủ quyền nằm ở dòng sống dân tộc, là Vạn Việt Thập Việt là S chứ không nằm ở con dấu.
– Quyền lực là cái tay nối dài của chủ quyền ra ngoài đời bằng luật lệ và thói quen. Dân phục tòng-yên tâm-ủng hộ bằng lý trí-ý chí-tình cảm thì quyền lực còn, dân không phục thì quyền lực mất.

– Quyền lý là lẽ phải của quyền. Khi xóa bỏ vạch kẻ kẻ trị người bị trị thì lẽ phải đó thuộc về toàn dân, ai cũng hiểu, ai cũng có, quyền lực lúc đó mới hợp với xương thịt thật của nước có sinh mệnh tiến hóa và chính nghĩa, là Đại Đồng Thái Dịch, là S, là Vạn Việt và Thập Việt, là sống là đang còn và không còn, chết là không còn mà cũng không hết.

*****

Nhân tính trong triết học Lý Đông A

Theo Lý Đông A, “nhân tính” là tổng hợp những đặc tính tạo nên con người như một loài có tính xã hội, gồm:

  1. Sắc tính: yếu tố sinh lý, bản năng tính dục, duy trì nòi giống.
  2. Nhu yếu tính: nhu cầu sinh tồn, ăn, ở, mặc…
  3. Xã hội tính: khả năng tổ chức, hợp tác, sống cộng đồng.
  4. Tự vệ tính: bảo vệ bản thân và xã hội; phụ thuộc vào xã hội tính.

Bốn “tính” này cấu thành “nhân tính”, tức bản chất con người trong tương quan cá nhân–xã hội. “Nhân tính” ở đây không chỉ là human nature chung chung, mà những yếu tố này hợp lại thành bản chất của con người và là nền tảng của xã hội loài người.

Điều lý nhân tính: Trinh, Bình và Hòa

Mặc dù Lý Đông A xác định bốn yếu tố cấu trúc của nhân tính — sắc tính, nhu yếu tính, xã hội tính và tự vệ tính — ông nhấn mạnh rằng chỉ bốn bản năng ấy thôi chưa làm con người khác loài vật. Nếu không có sự điều lý, đời sống con người sẽ bị chi phối bởi bản năng: đực cái lẫn lộn, tranh giành quyền lợi, và đấu đá nhau không ngừng.

Để người ngày càng là người và tránh xa kiếp vật, Lý Đông A đề xuất ba tiêu chuẩn điều lý: Trinh, Bình và Hòa.

  • Trinh (lòng trung trinh vợ chồng) điều hòa sắc tính. Nó biến bản năng sinh dục thành tình cảm có trách nhiệm và trung thực. Trinh giữa vợ chồng giúp ổn định đời sống hôn nhân.
  • Bình (bình đẳng) điều hòa nhu yếu tính. Nó bao gồm bình đẳng về cơ hội, quyền lợi và nghĩa vụ. Nhờ Bình, nhu cầu vật chất được hướng thành hợp tác, không còn là tranh đoạt, và giúp giảm khoảng cách giàu nghèo.
  • Hòa (hòa hợp) điều hòa xã hội tính. Dù lịch sử nhân loại đầy máu và nước mắt, nhưng loai người ai cũng muốn sống trong hòa bình thân ái. Hòa hướng con người tới tinh thần tương thân, chung sống và đồng tiến.

Tự vệ tính không cần tiêu chuẩn riêng vì vốn là phụ thuộc của xã hội tính — chức năng của nó là bảo tồn cộng đồng chứ không phải gây hấn.

Ba nguyên tắc Trinh – Bình – Hòa hợp thành cốt lõi đạo lý của nhân tính, giúp bản năng tự nhiên trở nên có lý trí, có đạo đức và mang tính nhân bản.

Như vậy, hệ thống của Lý Đông A kết hợp bản thể luận, xã hội học và đạo đức học vào một chỉnh thể nhân bản, trong đó tự do và bình đẳng nảy sinh từ việc điều lý bản năng chứ không phải kìm hãm nó.

Khái niệm “Xã Hội Tự Tính”

Lý Đông A mở rộng phân tích về nhân tính bằng khái niệm “xã hội tự tính”, có thể xem là bản thể xã hội tự hữu hay bản chất xã hội vốn có của con người. Thuật ngữ này chỉ rằng tính xã hội không phải là một hiện tượng bên ngoài hay sản phẩm của cộng đồng, mà là điều kiện bản thể — cấu trúc tồn tại tự nhiên làm nên con người.

Theo Lý Đông A, bốn yếu tố của nhân tính — sắc tính, nhu yếu tính, xã hội tính và tự vệ tính — đều là những biểu hiện khác nhau của xã hội tự tính. Chúng cho thấy bản chất con người vốn mang tính tương giao, hợp tác và cộng đồng.

Trong triết học phương Tây, tư tưởng này có nét tương đồng với quan niệm zoon politikon của Aristotle, Gattungswesen (loài tính tồn tại) của Marx, và Mitsein (cùng-hiện hữu) của Heidegger, đều cho rằng con người là hữu thể xã hội. Tuy nhiên, “xã hội tự tính” của Lý Đông A mang sắc thái bản thể học và đạo lý riêng: nó không chỉ là nhu cầu sinh tồn, mà còn là nền tảng của đời sống đạo đức và văn hóa.

Do đó, đối với Lý Đông A, xã hội tự tính vừa là bản thể vừa là đạo lý thông qua điều lý nhân tính, từ đó phát sinh tự do, bình đẳng và trách nhiệm của con người.

Sự hình thành xã hội của Nhân Tính trong tư tưởng Lý Đông A

Trong hệ thống Tam Nhân, Nhân Tính là đề tài tương đối phức tạp nhưng giữ vai trò quan trọng. Lý Đông A khai triển rất chi tiết, cho thấy sự khởi từ thiên tính của mọi sinh mệnh – tức bản năng sinh tồn (sinh thực hay một phần của đạo kỷ). Để tiếp nối và duy trì nòi giống, con người có sắc tính. Rồi để tồn tại, cần sự cấp dưỡng, tức bản năng hỗ tương nuôi dưỡng, là mầm mống của ý thức kinh tế.

Con đường sinh mệnh của loài người bắt đầu từ duyên trường, nối dài kiếp sống qua sinh con đẻ cái (phồn chủng), duy trì sinh tồn dẫn đến xã hội hóa mà xã hội được thành lập, tức sự chuyển dời tác dụng từ cá thể sang tập thể.

Con đường sinh mệnh bắt đầu từ duyên trường, nối dài kiếp sống qua sinh con đẻ cái (phồn chủng), duy trì sinh tồn dẫn đến xã hội hóa – tức sự chuyển dời tác dụng từ cá thể sang tập thể.
Xã hội hóa hoàn thành nhờ hợp tác, công vệ, và tự vệ, qua đó phát sinh sự thay đổi (deplacement) và thăng hoa (sublimation) – chính là nguồn gốc của sáng tạo và văn hóa nhân loại.

Nhân Tính vì vậy bắt nguồn từ thiên tính phồn chủng và các thiên tính phụ đới, là thực chất của Tính.
Sự hiểu biết về bản tính ấy là Kiến Tính;
khi nhân tính được thể hiện thành nhu yếu và điều kiện xã hội, nó trở thành Tính Tướng.

Xã hội là một tổ chức nhằm thỏa mãn và điều lý nhân tính.
Chính trị là tâm thuật để điều hòa các nhân tính của xã hội tự tính ấy.

Xã hội cần có trung tâm chủ đạo để tổ chức, điều hòa và định hướng tập thể.
Nhân tính từ cá thể chủ quan trở thành tập thể hóa, khách quan hóa, và tương đối hóa qua chính trị, giáo dục, chế độ và chính sách quốc gia.

Văn hóa là thành quả của xã hội;
lịch sử là quá trình của nó;
và hiệu suất mỗi thời đại là kết tinh của cả hai.

Đó là tương quan giữa tính của mỗi người và dân tộc tính —
tức là, mối liên hệ nội tại giữa con người cá thể và vận mệnh của cộng đồng nhân loại.

Tạ Dzu

(Với sự hỗ trợ của ChatGPT về cách thức trình bày và dịch thuật. Nhiều từ, cụm từ Lý Đông A sử dụng có thể chưa được dịch chính xác vì không có từ tương đương trong tiếng Anh).

*****

The Structure of Human Nature in Ly Dong A’s Philosophy

According to Vietnamese philosopher Ly Dong A, human nature (nhân tính) is the fundamental essence that forms the basis of human society.

It is composed of four intrinsic elements:

(1) sexual instinct (sắc tính) — the biological drive for reproduction and continuation of the species;
(2) essential needs (nhu yếu tính) — the instinct for survival, including the pursuit of food, shelter, and material security;
(3) social tendency (xã hội tính) — the capacity and inclination to live, cooperate, and organize within a community; and
(4) self-defense tendency (tự vệ tính) — the instinct to protect oneself and one’s society, which derives from the social tendency.

These four elements together constitute the structure of human nature, which unites the biological and social aspects of humanity. For Ly Dong A, understanding this structure is essential to realizing a truly humanistic and egalitarian society, where all human beings share the same nature and stand as equals in freedom and dignity.

The Moral Regulation of Structure Human Nature: Trinh, Bình, and Hòa

While Ly Dong A identifies four structural elements of human nature—sexual instinct (sắc tính), essential need (nhu yếu tính), sociality (xã hội tính), and self-defense (tự vệ tính)—he insists that these natural tendencies alone cannot make humanity distinct from animals. Without moral regulation, human life would be ruled by instinctual conflict: sexual promiscuity, competition for resources, and social strife.

To elevate human nature, Ly Dong A introduces what he calls the standards of moral regulation (tiêu chuẩn điều lý): Trinh, Bình, and Hòa.

  • Trinh (Fidelity) regulates sexual instinct. It transforms the reproductive drive into a relationship of commitment and respect—the loyalty of husband and wife helps create marriage stability.
  • Bình (Equality) regulates material need. It implies equality of opportunity, rights, and duties. Through Bình, human needs are no longer competitive but cooperative. It helps reduce the gap between rich and poor.
  • Hòa (Harmony) regulates sociality. Even though human history is filled with blood and tears, all people wish to live in a peaceful and affectionate world. Hòa thus directs social instinct toward brotherhood and coexistence rather than domination.

The self-defense tendency (tự vệ tính) does not require a separate standard, as it is a derivative of sociality—its function is to protect community, not to promote aggression.
Together, these three virtues constitute the ethical core of nhân tính, ensuring that human nature is not merely biological but rational, moral, and humane.

In this sense, Ly Dong A’s system integrates ontology, sociology, and ethics into a single humanistic framework—one where freedom and equality arise from the moral regulation of natural drives rather than their suppression.

The Concept of “Xã Hội Tự Tính” (Inherent Social Essence)

Ly Dong A extends his analysis of human nature by introducing the notion of “xã hội tự tính”, which can be translated as the inherent social essence or self-existent social nature of humanity. This term denotes the idea that sociality is not an external construct imposed upon individuals, but rather an ontological condition—an innate structure of being that defines what it means to be human.

According to Ly Dong A, the four components of human nature—sexual instinct (sắc tính), essential needs (nhu yếu tính), sociality (xã hội tính), and self-defense (tự vệ tính)—are all expressions of this social essence. Together, they reveal that human existence is fundamentally relational and cooperative.

In Western philosophy, this view resonates with Aristotle’s concept of zoon politikon, Marx’s Gattungswesen (species-being), and Heidegger’s Mitsein (being-with), all of which recognize the social dimension as constitutive of human existence. Yet Ly Dong A’s “xã hội tự tính” carries a distinct metaphysical nuance: it implies that sociality is not only a necessity for survival, but also the self-actualizing ground of moral and cultural life.

Thus, for Ly Dong A, the social essence of humanity is both ontological and ethical through moral regulation, serving as the foundation from which human freedom, equality, and responsibility emerge.

The social genesis of human nature in Ly Dong A’s thought

Within the three human principles (tam nhân), the structural human nature (nhân tính) is perhaps the most intricate yet fundamental concept.
Ly Dong A develops it in remarkable detail, tracing its evolution from heavenly nature (thiên tính) — the vital impulse of all living beings, which he calls sinh thực (the instinct for self-preservation, part of meaning of đạo kỷ).

To continue and perpetuate the lineage, human beings possess sexual nature (sắc tính). To survive, they require nurturing and mutual support, which constitutes the instinct of provision and nourishment (cấp dưỡng), the earliest seed of economic consciousness.

The life-path of humanity begins with the continuity of existence — extending life across generations through procreation (phồn chủng). The effort to maintain and secure existence inevitably leads to socialization, through which society is formed — that is, the transference of functional activity from the individual to the collective.

Through cooperation, assistance, and mutual defense, socialization produces new dynamics of change (déplacement) and sublimation (thăng hoa) — the ultimate sources of human creativity and civilization.

Thus, human nature originates from heavenly nature and its derived forms — it is the substance of the Tính (Nature).
Human understanding, or awareness of this nature, is called “Kiến Tính” (the insight into Nature).
When human nature manifests through practical needs and social conditions, it becomes “Tính Tướng” — the phenomenal or actualized form of Nature.

Society, then, is “an organization for the realization of human nature.”
Politics is “the art of regulating those human tendencies.”

Society requires central coordination, a governing principle to harmonize and direct the collective satisfaction of human needs.
From individual subjectivity, human nature becomes collectivized, objectified, and relativized through institutions of politics, education, and governance.

Culture is the fruit of society; history is its process; and each era’s achievement is its collective efficiency.
This defines the relationship between individual nature and national character (dân tộc tính) — the link between the person and the destiny of a people.

Tạ Dzu

(With the support of ChatGPT for presentation and translation. Many of the terms and expressions used by Lý Đông A may not have been translated accurately, as there are no exact English equivalents).

*****

Khái niệm Nhân Tính của Lý Đông A so sánh với các truyền thống triết học Tây phương

Tóm tắt

Bài viết này nghiên cứu quan niệm về nhân tính của triết gia Việt Nam Lý Đông A và đặt nó trong khung so sánh với các truyền thống triết học lớn của Tây phương. Quan điểm của Lý Đông A kết hợp các phương diện sinh học, xã hội và đạo đức của sự tồn tại con người vào một cấu trúc thống nhất, thể hiện một dạng nhân bản luận đặc thù nhấn mạnh bình đẳng, hợp tác và bản chất chung của nhân loại. Thông qua đối chiếu với Aristotle, Rousseau, Marx và Sartre, nghiên cứu này chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa Lý Đông A và các quan niệm Tây phương về bản tính con người, từ đó đề xuất đây như một nền tảng khả dĩ cho một loại nhân học phổ quát và mang tính dung hợp.

Mở đầu

Câu hỏi “con người là gì?” hay “bản tính con người ra sao?” là một trong những vấn đề lâu đời nhất của triết học. Trong cả tư tưởng Đông phương và Tây phương, các triết gia đều tìm cách xác định nhân tính như nền tảng của đạo đức, trật tự xã hội và tự do. Ở Việt Nam, triết gia – nhà tư tưởng dân tộc Lý Đông A (1920–1946?) đã xây dựng một học thuyết sâu sắc về nhân tính — một khái niệm hòa quyện bản năng sinh học, tinh thần hợp tác xã hội và hòa điệu đạo đức vào một khung cấu trúc thống nhất.

Khác với nhiều học thuyết Tây phương thường tách thể chất khỏi đạo đức hay xã hội, Lý Đông A cho rằng con người là một toàn thể thống nhất giữa các động lực tự nhiên và các quan hệ xã hội. Thế giới quan của ông mang tính nhân bản sâu sắc, trong đó bình đẳng và tự do xuất phát từ bản chất chung của nhân loại, chứ không phải do thể chế áp đặt hay mệnh lệnh siêu nhiên.

Bài viết này khảo sát khái niệm nhân tính của Lý Đông A và so sánh với những quan niệm tiêu biểu của Tây phương — từ “con người là động vật chính trị” của Aristotle, đến thiện tính tự nhiên của Rousseau, chủ nghĩa nhân bản xã hội của Marx, và tự do hiện sinh của Sartre. Qua đối thoại này, nghiên cứu làm nổi bật tính độc đáo và giá trị phổ quát trong tư tưởng của ông.

Khái niệm nhân tính trong triết học Lý Đông A

Trong hệ thống của Lý Đông A, nhân tính không phải một bản chất trừu tượng mà là một cấu trúc tổng hợp bốn yếu tố nền tảng tạo thành cơ sở của xã hội loài người:

  1. Sắc tính – bản năng tính dục, động lực sinh học nhằm duy trì nòi giống.
  2. Nhu yếu tính – các nhu cầu thiết yếu cho sinh tồn như ăn, ở, an toàn thể chất.
  3. Xã hội tính – khuynh hướng tự nhiên hướng đến cộng đồng, hợp tác và tổ chức tập thể.
  4. Tự vệ tính – bản năng bảo vệ bản thân và cộng đồng, được xem là chức năng phụ thuộc của xã hội tính.

Bốn phương diện này hợp thành cấu trúc nhân tính—một chỉnh thể hữu cơ kết nối đời sống sinh học và xã hội của con người.

So sánh với các truyền thống triết học Tây phương

Aristotle và tính xã hội của con người

Quan điểm của Lý Đông A có sự tương đồng với nhận định của Aristotle rằng con người là zoon politikon — động vật chính trị, hoàn thành bản thân trong cộng đồng (polis). Cả hai đều xem tính xã hội là bản chất con người. Tuy nhiên, Aristotle đặt nền tảng ở lý trí và đức hạnh công dân, trong khi Lý Đông A mở rộng nền tảng này đến cả tầng sinh học và bản năng.

Rousseau và thiện tính tự nhiên

Jean-Jacques Rousseau cho rằng con người sinh ra vốn tốt, nhưng bị xã hội làm băng hoại. Ngược lại, Lý Đông A xem con người sinh ra vốn vô-kỷ-tính, không thiện không ác, và xã hội là biểu hiện tự nhiên của con người chứ không phải sự tha hóa. Nếu Rousseau tiếc nuối sự suy đồi của văn minh khỏi trạng thái tự nhiên, Lý Đông A khẳng định tổ chức xã hội là bước phát triển tất yếu của nhân tính.

Marx và bản chất xã hội của con người

Karl Marx khẳng định: “Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội.” Quan điểm của Lý Đông A tương đồng ở việc nhấn mạnh tính xã hội, nhưng khác ở phạm vi: con người trong Marx mang tính lịch sử – vật chất; còn trong Lý Đông A mang tính cấu trúc – bản thể.

Sartre và phủ nhận bản chất tiên nhiên

Jean-Paul Sartre cho rằng “hiện hữu có trước bản chất”, con người tự tạo ra bản tính của mình qua hành động và tự do. Lý Đông A vẫn thừa nhận tự do của con người, nhưng cho rằng tự do vận hành trên nền một cấu trúc nhân tính chung mà mọi người đều mang.

Thảo luận: Hướng tới một Chủ nghĩa Nhân Bản phổ quát

Bằng cách kết hợp sinh học, xã hội và đạo đức trong một khung thống nhất, Lý Đông A đưa ra một đóng góp độc đáo của Việt Nam vào tư tưởng nhân bản toàn cầu. Khái niệm nhân tính của ông nối liền tư tưởng toàn thể của Đông phương với nhân bản luận Tây phương, đề xuất một nền nhân học vượt qua ranh giới văn hóa và ý thức hệ.

Kết luận

Triết lý nhân tính của Lý Đông A là một trong những hệ thống nhân bản độc đáo nhất trong tư tưởng Việt Nam hiện đại. Bằng cách xác định nhân tính như một cấu trúc thống nhất của bản năng, nhu cầu, xã hội tính và tự vệ, ông đã kết nối sinh học, xã hội học và đạo đức thành một chỉnh thể chặt chẽ.

Tạ Dzu

(Với sự hỗ trợ của ChatGPT về cách thức trình bày, thu thập tài liệu tham khảo, và dịch thuật. Nhiều từ, cụm từ Lý Đông A sử dụng có thể chưa được dịch chính xác vì không có từ tương đương trong tiếng Anh).

————————————-

Tham khảo:

Aristotle. (1999). Politics (B. Jowett, Trans.). Dover Publications.

Lý Đông A. (1942/2019). Sinh Mệnh Tâm Lý. Học Hội Thắng Nghĩa.

Marx, K. (1845/1978). Theses on Feuerbach. In R. C. Tucker (Ed.), The Marx–Engels Reader (pp. 143–145). Norton.

Rousseau, J.-J. (1762/1979). Emile, or On Education (A. Bloom, Trans.). Basic Books.

Sartre, J.-P. (1946/2007). Existentialism Is a Humanism (C. Macomber, Trans.). Yale University Press.

*****

Ly Dong A’s Concept of Structural Human Nature in Comparison with Western Philosophical Traditions

Abstract

This paper explores Vietnamese philosopher Ly Dong A’s conception of structural human nature (nhân tính) and situates it within a broader comparative framework with major Western philosophical traditions. Ly Dong A’s view integrates biological, social, and moral aspects of human existence into a unified structure, presenting a distinctive form of humanism that emphasizes equality, cooperation, and the shared essence of humanity. Through a comparative analysis with Aristotle, Rousseau, Marx, and Sartre, this study highlights both the convergences and divergences between Ly Dong A’s and Western notions of human nature, proposing it as a potential foundation for a universal and integrative anthropology.

Introduction

The question of what it means to be human has been one of philosophy’s oldest and most enduring inquiries. In both Eastern and Western thought, philosophers have sought to define human nature as the basis of morality, social order, and freedom. In Vietnam, the philosopher and nationalist thinker Ly Dong A (1920–1946) articulated a profound theory of nhân tính — a concept that blends biological instinct, social cooperation, and ethical harmony into a single structural framework.

Unlike many Western theories that tend to separate the physical from the moral or social, Ly Dong A proposed that the human being is an integrated totality of natural drives and social relationships. His vision is rooted in a deeply humanistic worldview, in which equality and freedom arise from the shared essence of humanity rather than from external institutions or divine command.

This paper examines Ly Dong A’s concept of nhân tính and compares it with representative Western views on human nature—from Aristotle’s political animal to Rousseau’s natural goodness, Marx’s social humanism, and Sartre’s existentialist freedom. By placing Ly Dong A in dialogue with these thinkers, the study aims to highlight the originality and universality of his philosophical vision.

The concept of structural human nature (nhân tính) in Ly Dong A’s philosophy

In Ly Dong A’s framework, nhân tính (human nature) is not an abstract essence but a structured synthesis of four fundamental elements that together form the foundation of human society:

  1. Sắc tính (sexual instinct) – the biological drive for reproduction and the continuation of the species.
    2. Nhu yếu tính (essential needs) – the material and physiological requirements for survival, such as food, shelter, and physical security.
    3. Xã hội tính (social tendency) – the inherent inclination to live in community, cooperate, and organize collectively.
    4. Tự vệ tính (self-defense tendency) – the instinct to protect oneself and one’s group, which Ly Dong A describes as a subordinate function of sociality.

Together, these four dimensions constitute what Ly Dong A calls the structure of human nature, an organic unity that merges the biological and social dimensions of human life.

Comparative analysis with Western philosophical traditions

Aristotle and the Social Nature of Man

Ly Dong A’s view similar to Aristotle’s conception of man as a zoon politikon, or political animal, whose fulfillment lies in the community (polis). Both philosophers regard sociability as intrinsic to human nature. However, while Aristotle grounds this in rationality and civic virtue, Ly Dong A extends the foundation deeper—into the biological and instinctual dimensions of life.

Rousseau and the Natural Goodness of Humanity

Jean-Jacques Rousseau famously claimed that man is born good but corrupted by society. In contrast, Ly Dong A interprets human beings are born without an inherent egoistic nature — neither morally good nor morally evil, and that society itself as a natural expression of humanity, not its distortion. Whereas Rousseau laments civilization’s fall from natural virtue, Ly Dong A views social organization as a necessary evolution of human nature.

Marx and the Social Production of Human Nature

Karl Marx argued that “the human essence is the ensemble of social relations” (Theses on Feuerbach). Ly Dong A’s conception aligns closely with this social emphasis yet differs in scope. Marx’s humanism is historical and materialist; Ly Dong A’s is structural and ontological.

Sartre and the Existential Rejection of Essence

In Jean-Paul Sartre’s existentialism, “existence precedes essence,” meaning that human nature is not predetermined but created through action. Ly Dong A, while affirming human freedom, maintains that existence unfolds within a structural essence—the shared foundation of nhân tính.

Discussion: Toward universal humanism

By integrating biological, social, and moral dimensions into a unified framework, Ly Dong A offers a distinctively Vietnamese contribution to global humanist thought. His concept of nhân tính bridges Eastern holistic philosophy and Western humanism, proposing an anthropology that transcends cultural and ideological boundaries.

Conclusion

Ly Dong A’s philosophy of nhân tính stands as one of the most original humanistic systems in modern Vietnamese thought. By defining human nature as a structural unity of instinct, need, sociality, and self-defense, he bridges biology, sociology, and ethics into a coherent whole.

Tạ Dzu

(With support of ChatGPT for presentation, reference gathering, and translation. Many of the terms and expressions used by Lý Đông A may not have been translated accurately, as there are no exact English equivalents).

———————————–

References

Aristotle. (1999). Politics (B. Jowett, Trans.). Dover Publications.

Ly Dong A. (1942/2019). Sinh Menh Tam Ly. Thang Nghia Society.

Marx, K. (1845/1978). Theses on Feuerbach. In R. C. Tucker (Ed.), The Marx–Engels Reader (pp. 143–145). Norton.

Rousseau, J.-J. (1762/1979). Emile, or On Education (A. Bloom, Trans.). Basic Books.

Sartre, J.-P. (1946/2007). Existentialism Is a Humanism (C. Macomber, Trans.). Yale University Press.