Đảng Sử Phụ Lược
Đại Việt Duy Dân Cách Mạng Đảng[1]
- Bối Cảnh Dẫn Đến Nhu Cầu Tổ Chức Đấu Tranh Giành Độc Lập
Ngay từ thế kỷ thứ 18 khi loài người chớm dựng lại nền văn minh khoa học đã nảy sinh ý tưởng bóc lột và đè nén lẫn nhau, kinh qua các hành động trá hình giao thương, truyền bá tư tưởng, phát huy văn hoá để dò dẫm thám sát dẫn đến mưu toan xâm chiếm thống trị. Do đó đã có một số các nước tây phương trong thế kỷ 19 đã dùng cường lực xâm lấn, cưỡng chế chiếm đoạt thống trị đối với những nước nhỏ yếu khắp địa cầu. Từ đó phát sinh đố kỵ giữa các thế lực đương thời, dẫn đến hai cuộc đọ sức thư hùng, thế chiến 1914-1918 và 1939-1945, mong độc quyền thống trị loài người.
Nước Việt là một trong những dân tộc đã là nạn nhân của sự chiếm cứ đó, sau cuộc tiến chiếm lãnh thổ Việt của thực dân Pháp năm 1856, một dân tộc hiếu hòa trọng nghĩa nhưng không kém phần cương nghị, một dân tộc truyền thống văn minh trong quá trình kiến lập nền tảng xã hội loài người từ 15 đến 20 ngàn năm trước. Qua ba thời kỳ bắc thuộc 1007 (một ngàn lẻ bảy năm), chỉ mới giải thoát được 65 năm kể từ cuộc chiến thắng Hà Hồi Đống Đa của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ ngày 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (đầu năm 1789), coi như một giấc ngủ dài. Cuộc xâm lăng của thực dân Pháp khởi điểm năm 1856 chỉ là một giấc ngủ ngắn. Từ khi Pháp chiếm toàn cõi Việt, đặt nền thống trị chia ba miền tạo ảnh hưởng riêng biệt để dễ bề cai trị: Miền Bắc đặt danh xưng xứ bảo hộ, miền Trung xứ tự trị, miền Nam xứ thuộc địa. Muốn nắm chắc việc thống trị lâu dài, Pháp bắt tay với người Anh nối dài ảnh hưởng với tô giới Hồng Kông bao gồm luôn địa bàn 3 tỉnh của Trung Hoa là Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam chịu chung ảnh hưởng giám hộ nhưng nhẹ nhàng hơn so với ba nước Việt-Miên-Lào nên đã cho lưu hành một hệ thống ngân hàng chung, phát hành loại tiền gọi là Đông Dương nhưng thực tế là Đông phương, đó là chiến lược thôn tính khắp vùng phương Đông của thực dân Pháp. Các xứ khác coi như số phận đã an bài, với dân Việt không ở tư thế khoanh tay cam chịu, các tổ chức kháng chiến quân liên tiếp nổi dậy khắp vùng miền Nam, Bắc như Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định, Đề Thám, Đội Cấn, Lê Bá Vinh. Riêng miền Trung với danh xưng tự trị, triều đình nhà Nguyễn cũng không ngớt đề kháng nhưng đứng trước cường lực của bộ máy thống trị, các tổ chức kháng chiến trước sau lần lượt bị dẹp tan, vua chúa bị lưu đày biệt xứ! Phong trào bị xẹp, cá nhân trổi dậy, chấp nhận hy sinh làm gương như trường hợp Phạm Hồng Thái, nối tiếp là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, Nam Đồng Thư Xã, các tổ chức đảng phái cách mạng như Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Đông Dương Cộng sản Đảng năm 1930. Mỗi lúc cường độ đề kháng một gia tăng, từ giữa đến cuối thập niên 1940 dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng không ngoài mục đích mang ý tưởng đấu tranh giành độc lập, trong đó có Đại Việt Quốc Dân Đảng, Việt Nam Phục Quốc, Việt Nam Phục Quốc Hội, Dân Xã Đảng, Đại Việt Duy Dân Cách Mạng Đảng v.v… Tất cả các tổ chức đều đã luợng định tình hình biến động khắp thế giới đang đi tới khúc quanh lịch sử của loài người đương nhiên phải ảnh hưởng đến hiện tình nước Việt, do đó dồn mọi nỗ lực chuẩn bị hành động cho công cuộc phục quốc nên đã lần lượt bố trí tạo dựng các tổ chức có danh xưng nêu trên.
- Những Sắc Thái Cá Biệt Của Mỗi Tổ Chức
- Việt Nam Quốc Dân Đảng: Dựa theo chủ thuyết Tam Dân của Trung Hoa Quốc Dân Đảng do Tôn Trung Sơn đề xướng: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.
- Đông Dương Cộng Sản Đảng: Y cứ chủ thuyết Duy Vật biện chứng pháp của cộng sản quốc tế do Karl Marx khởi xướng, Lénine và Staline nối tiếp ứng dụng, gieo vào lòng dân ý tưởng xây dựng một thế giới đại đồng, xóa mờ biên giới, không còn cảnh người bóc lột người.
- Đại Việt Quốc Dân Đảng: Dựa vào thuyết sinh tồn ưu thắng liệt bại, thí dụ trong một cánh rừng cây lớn vươn lên che khuất những giọt sương rơi xuống không thể tới cây nhỏ lẽ tất sẽ không đủ sống, dần kiệt quệ hao mòn không thể tồn tại.
- Việt Nam Phục Quốc Đảng: Bao gồm mọi xu hướng yêu nước, ngoại trừ những thành phần vọng ngoại, tay sai ngoại bang.
- Việt Nam Phục Quốc Hội: Ngầm liên hệ với các tổ chức phục quốc, bề ngoài tạo vỏ bọc dưới danh nghĩa tôn giáo: “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ” với chủ đích tam giáo đồng nguyên.
- Dân Xã Đảng: Nặng về tổ chức võ trang đấu tranh bao che dưới danh nghĩa “Phật Giáo Tứ Ân”: Ân Phụ mẫu, ân quân vương, ân đồng loại và ân tam bảo.
- Đại Việt Duy Dân Cách Mạng Đảng: Mang chủ thuyết Duy Nhân, [Duy Dân] và Duy Nhiên, hướng cải tiến thiên nhiên cải thiện dân sinh, lập lại văn minh mới cho loài người bằng cuộc cách mạng hướng tâm, lấy tiểu Việt làm tiêu điểm.
Đó là những sắc thái cá biệt của mỗi tổ chức tiêu biểu tổng quát cho tổ chức về chủ đích đường hướng tổng tiến trình đã và đang sinh hoạt.
- Làn Sóng Ngầm Trong Nhân Gian Đón Nhận Nguồn Dư Luận Sấm Trạng Trình
Tất cả các tổ chức quật khởi chống Pháp trước sau không ít thì nhiều đều xôn xao luận bàn dựa theo sấm Trạng Trình (Nguyễn Bỉnh Khiêm) làm tiêu mốc, được coi như kim chỉ nam để hướng dẫn về xách động phong trào quật khởi, được lan truyền như câu: “Lại nói chuyện Hoàng giang sinh Thánh, sông Bảo giang thiên định ai hay? Vốn bụt xuất thế đã chầy, còn đợi được ngày ra cứu lương dân”. Ý nói khúc sông Hồng khoảng ngã ba Tuần Vường, thời tiền Lê đặt là Hoàng giang, sang đời hậu Lê đổi lại là Bảo giang, ám chỉ vùng địa linh anh kiệt này sẽ có đấng minh quân giáng sinh để cứu vớt giống nòi nhưng còn phải đợi thời cơ. Đó là những dư âm được loan truyền qua câu phú đoán của nhà địa lý Tả Ao là: “Đầu gối núi đọi, gối dọi Tường Vường, mà phát đế vương, lưu truyền vạn đại”. Ông Tả Ao là một nhà địa lý nổi danh vô song, hầu như cả nước không ngớt lời ca tụng. Đi sâu trong giới Nho học thức thời luôn có những đường hướng trao đổi nhận định tình hình thời cuộc, trong đó có thân phụ chúng tôi mà tôi được phép cho nghe đại ý là đã có minh quân chúa, chưa thể hành sự gì được lúc này, phải chời đợi và theo dõi! Tuy, cũng thời gian này một số bậc cao siêu hơn đã tìm biết cặn kẽ những diễn tiến như cụ Đồ Mạnh (Phạm Văn Mạnh) thầy dạy chữ Nho chuyên nghiên cứu về thiên văn địa lý, cụ là người tỉnh Ninh Bình sinh 1894, cụ đã liên lạc với hai cụ cùng dạy chữ Nho cùng là thầy thuốc Bắc, tôi nhớ một trong hai cụ là cụ Đồ Khuê (Nguyễn Văn Khuê) người tỉnh Hà Nam. Cụ Mạnh là người duy nhất trong số ba cụ di cư vào miền Nam năm 1954, tôi may mắn nhận được sự hướng dẫn, cụ cũng đã mất tại Sài Gòn năm 1974. Chúng tôi thường sinh hoạt với anh Nguyễn Quang Dzoãn là con cụ Nguyên Văn Khuê, anh Dzoãn trên tôi 11 tuổi, tôi cũng thường tiếp xúc với cụ Nguyễn Như Loan (tuổi Tuất sinh 1910), là anh ruột ông Lý hơn ông Lý 10 tuổi. Cũng do sự may mắn đó tôi được trao đổi rất nhiều về quá trình diễn tiến của tổ chức Z[2].
- Sơ Lược Lý Lịch Ông Lý Đông A
Ông Lý Đông A tên thực là Nguyễn Hữu Thanh, bút hiệu XY Thái Dịch, Tiêu Văn Tùng, Anh Thuần, Thanh A, sinh ngày 24-11-1920 tại làng Nhuế Cầu, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam trong một gia đình trung lưu, gồm một người anh ruột, người chị và một cô em gái. Tính nết dị thường, ngay từ thuở nhỏ tới trường học ông thường làm thơ nhắc đến cô Lý cô Hình cô Sử, không mấy để ý đến bài học nhưng khi thầy hỏi ông trả lời không khúc mắc. Năm 13 tuổi ông nói với người nhà trong người khó chịu muốn nghỉ ở nhà và nói muốn người nhà kê cho một chiếc giường nằm ngay giữa gian nhà dùng để thờ tổ họ. Sau đó ông nằm liên miên và không muốn ai lui tới. Gia đình thấy nhiều sự khác thường, sai con cháu gái kêu bằng bác (con người em thúc bá) năm đó bé 14 tuổi, mỗi ngày 2 lần đưa cơm vào để đó rồi đi ra và người nhà nói chừng nào thấy bác nhắm mắt, khẽ rút cuốn sách gối đầu, mang ra cho coi là sách gì? Mỗi lần con bé đưa tay chạm cuốn sách ông lại hỏi mày làm gì đó? Không thể biết đó là cuốn sách gì và ai đã trao. Người nhà lo lắng đi cắt thuốc về sắc đem vào phòng cho ông uống, ông đều khước từ. Ông nằm liên miên lối 3 tháng, buổi chiều một ngày nọ ông nói với đứa cháu gái: “Mày lấy cây cù nèo nối thêm khúc cây kia vào. Hôm nay mày ăn cơm rồi thức với bác, tao có việc nhờ”. Cô cháu gái làm theo lời dặn, đến 11 giờ đêm ông nói xách cây cù nèo đi theo ông ra phía sau nhà thờ tổ họ có cái ao trồng cây sung, ông lần lượt chỉ, hái đủ 7 cái đọt sung mang về, bắc bếp sao vàng, hạ thổ rồi sắc lấy cho ông 1 bát uống. Sau đó mấy ngày ông trốn gia đình đi đâu không ai hay biết, cắt cử người nhà đi tìm kiếm trên hai tháng đều vô vọng. Được người mách tới một nhà tướng số, nổi danh về toán độn đã mách đường: “Đi về hướng tây nam theo triền núi kiếm tới một ngôi cổ tự (chùa xưa), xin gặp vị cao tăng có thể được chỉ dẫn”. Chính ông Loan đã đích thân khởi hành từ Hà Nam, dò hỏi đến được ngôi chùa nằm cheo leo ở ven miền núi thuộc tỉnh Ninh Bình, đó là chùa “Trúc Lâm Yên Tử” vào giữa lúc 11 giờ 30 trưa. Sau khi xin phép sư cụ được vào chùa, thấy ông đang nằm ngủ trên sập gỗ, ông Loan liền đánh thức ông dậy, ông hỏi:
- Anh làm gì sóng gió ầm ầm ngựa hý quân reo mất cả giấc ngủ của tôi vậy?
- Hai cụ ở nhà bỏ ăn bỏ ngủ, cả nhà đều lo lắng không ai biết chú đi đâu! Thôi đi về nhà để cả nhà yên tâm.
Được biết lúc cậu tìm đến chùa xin vào gặp sư cụ và đề nghị cho xuống tóc quy y, sư cụ không chấp thuận, ông cự nự:
- Bạch sư cụ thiền môn rộng mở sẵn sàng đón nhận những kẻ tha phương quy y đầu Phật, tôi tới xin không được chấp thuận, tai sao sư cụ không đóng chùa lại?
- Cậu muốn gì tôi giúp, cậu cứ nói thẳng ra, xem tướng tinh của cậu tôi không dám làm điều đó!
- Xin cụ giúp cho tôi ở chùa và xin được học chữ Nho.
- Điều đó tôi sẵn sàng giúp cậu trong phạm vi khả năng của tôi.
- Xin cám ơn cụ.
Khi được sư cụ chấp nhận và dạy hết cuốn Tam Tự Kinh, cậu nêu câu hỏi:
- Bạch cụ chẳng hay trong cuốn Tam Tự Kinh có câu nào hay nhất ý nghĩa nhất xin cụ chỉ giáo?
- Sách thế nào tôi chỉ cậu thế đó, tôi làm sao biết được câu nào hay nhất ý nghĩa nhất để nói với cậu!
Thế rồi một hôm sư cụ có việc đi vắng, cậu ở nhà tán tỉnh nhờ chú tiểu xuống tóc cho cậu, khi chú tiểu đã sẵn sàng chậu nước và dao cạo, đang vớt nước lên cho ướt tóc để chuẩn bị cạo, bất chợt sư cụ về tới bắt gặp hỏi:
- Chú làm gì đó?
- Cậu nói nhờ con xuống tóc cho cậu!
- Ngừng tay ngay, tôi còn không dám làm điều đó, sao chú dám làm.
Sau khi xin phép sư cụ để cùng ông anh trở về nhà, từ đó các cụ cố vấn (ba cụ đồ Nho) luôn ẩn hiện chung quanh, cậu không thể đi xa được nữa. Khi rảnh thì giờ thì một cụ đưa ý kiến:
- Anh đánh cờ không?
- Đánh thì đánh, các cụ một bên tôi một bên.
Mỗi khi nhắc đến quân cờ, cậu lại lẩm bẩm nói: “Đế Thiên nói đi nước này, Đế Thích nói đi nước kia”. Một hôm có cụ đưa ý kiến:
- Anh có muốn điều gì không?
- Muốn thì muốn nhưng chẳng ai giúp được.
- Thì cứ nói xem sao?
- Tôi muốn lên núi Ba Vì xem trên đó có gì không?
- Núi Ba Vì cao như thế, giữa thắt cổ bồng lại toàn tre gai vàng chằng chịt, biết lối nào mà lên được?
- Có người biết chứ!
- Ai, ở đâu?
- Khó kiếm lắm!
- Thì anh cứ nói đi.
- Ở trên Mường có một nhà, họ hiện có 2 anh em trai vẫn còn độc thân, cha mẹ đều đã chết cả. Hai người này biết đường nhưng phải mất cả trăm ngày mới tìm ra, khi tìm được họ sẽ dẫn lối.
Hai cụ khởi hành lên Hoà Bình tìm 2 anh em nhà họ kia, cụ đồ Mạnh ở nhà cùng cậu đợi tin. Đã ngoài ba tháng, cụ hỏi cậu:
- Liệu đã tìm thấy chưa?
- Có thể thấy rồi!
- Vậy ta đi được chưa?
- Được rồi.
Thế là cụ đồ Mạnh cùng khởi hành theo hướng dẫn lộ trình của cậu. Sau mấy ngày hành trình tới một khu rừng, lúc đó hai toán cách nhau chừng 70 thước, nhìn thấy 2 người thanh niên cởi trần đóng khố, tay cầm dao quắm đang ra sức phát gai và cây để lấy lối đi có hai cụ theo sau. Chợt thấy hai thanh niên kia quỳ xuống đất gục đầu, chắp tay vái và nói với hai cụ là ông chủ đây rồi. Khi hai toán giáp mặt, hai anh em họ nhà kia tiếp tục làm việc phát quang tre gai vàng để lấy lối đi, từ chân núi qua đền hạ rồi men theo triền núi để lên đến đền trung, hai người nói: “Chúng tôi chỉ biết đến đây thôi!”. Hai cụ đã mệt sức nên ở lại cùng hai anh em họ nhà kia. Cụ Mạnh đi theo lối 200 thước nữa thấy có một cái giếng cạn khô, cụ nói: “Đây rồi đúng rồi, anh ngồi xuống đây”. Sau khi ngồi xuống cậu rút trong người ra một cuốn sách, mở ra và nói cụ đọc cho trang này. Khi cụ Mạnh đọc được nửa chừng, cậu đứng dậy kêu nóng quá, cụ Mạnh nói cậu phải ngồi xuống để hoàn tất công việc, lập tức cậu phản ứng:
- Tôi đắc thiên chứ đâu có đắc địa mà cụ bảo tôi ngồi đây!
- Ơ hay cái phép tu luyện phải vậy thì tôi nói vậy, chứ làm sao khác hơn được?
- Có đi được nữa không?
- Có đường nào đâu mà bảo tôi đi!
- Thế cụ ở đây đợi tôi.
Cụ mệt quá ngồi thiếp đi lúc nào, lát sau cậu trở lại nói: “Tôi đã lên trên đó, thấy cả rồi cụ ạ! Thôi ta đi về”. Sau khi về lại quê nhà ở Bình Lục Hà Nam ông đã ghi lại bài thơ sau, sau này in vào tập thơ “Đạo Trường Ngâm” (trong Nam), tựa đề:
Hoài Cảm
Hồng Bàng chuyện cũ có bao điều
Tái thế duyên xưa cũng bấy nhiêu
Ba chén rượu thâm ngày tháng ít
Một xoang tình sử cổ kim nhiều
Chín mươi huấn cáo quỷ thần khốc
Mười vạn tinh binh thù địch xiêu
Tin tức Động Đình ai mối lái
Muốn theo vết Tổ dạm người yêu!
Cụ đồ Mạnh kể thêm lúc nào cũng thấy cậu dấu trong người một bầu rượu nhỏ, khi lên đỉnh núi Ba Vì là rót 3 chén rượu uống rồi mới đi xuống. Sau khi thăm núi Ba Vì trở về, dư âm lan truyền có minh quân ấu chúa lúc ẩn lúc hiện đã dẫn đến cuộc diện kiến của cậu bé với thân phụ của ông cử Trần Thanh Đình, một nhân vật khá bề thế trong giới sĩ phu Bắc Hà thời đó. Tự nhiên tiếng đồn lan truyền khắp miền, tự nhiên trở thành một tổ chức không giới tuyến. Một lần nữa ba cụ cố vấn lại hỏi có thể giúp gì được cho cậu, cậu nói: “Tôi muốn gặp cụ Phan Bội Châu”. Ba cụ đã liên lạc sắp đặt dẫn đến cuộc diện kiến cụ Phan. Khi diện kiến, cụ Phan mời ba cụ ngồi đối diện và nói cậu ngồi bên cạnh. Cậu nêu câu hỏi trước: “Kính thưa đại tiên sinh, trên thế giới hiện nay có hai hệ phái giữa Duy Tâm và Duy Vật, chẳng hay dân tộc ta theo hệ phái nào? Cụ Phan đáp: “Dân không Duy Tâm, dân không Duy Vật, dân chỉ Duy Dân!”
Y cứ lời chỉ giáo của cụ Phan, mối ưu tư của cậu phải cần tìm hiểu thêm dữ kiện sử liệu để hoạch định một đường hướng cho dân tộc Việt nói riêng và nhân loại nói chung, do đó cậu quyết định phải lên Hà Nội để tìm phương tiện khảo cứu. Lần đầu tiên tìm đến một nhà in, đứng ngoài ngó vào, chủ nhà lên tiếng:
- Cậu hỏi ai?
- Thưa tôi muốn hỏi xin việc làm!
- Ở đây có hai việc, đóng thùng gửi hàng và xếp chữ, cậu làm được không?
- Nếu được ông bà chấp nhận việc gì tôi cũng có thể làm được.
- Thế cậu muốn lương bao nhiêu?
- Bao nhiêu cũng được miễn sao ông bà giúp cho có chỗ ăn ở thôi.
Sau khi được chủ nhà in thâu nhận, giữ đúng lời hứa, việc gì giao cậu cũng tích cực làm trọn vẹn. Mới tháng đầu được trả 2$ một tháng, sau đó cứ tăng dần lên đến 6$ một tháng. Mỗi khi được phát lương, cậu chỉ xin nhận 1$, phần dư cậu nhờ ông bà chủ giữ dùm khi nào cần sẽ xin lại. Công việc tiến triển tốt đẹp. Được biết cả hai ông bà chủ đều là người hiếu học, ông chồng lại giữ chức kiểm tra trong viện khảo cổ Hà Nội nên công việc rất bận rộn. Khi tối về hai vợ chồng lại đem sách ra học thêm rồi tranh luận về triết học. Đợi một hôm thuận tiện cậu nói: “Thưa ông bà có thể giúp tôi học được không?”. Đề nghị được chấp thuận dễ dàng. Ít bữa sau cũng trong một cuộc tranh luận về môn triết, cậu xin tham gia ý kiến rồi ôn tồn giải thích những thắc mắc chưa ngã ngũ. Tiếp mấy lần như vậy ông bà chủ rất phục những lý lẽ của cậu và yêu cầu sửa đổi danh xưng:
- Từ nay cậu kêu chúng tôi bằng anh chị cho thân mật, đừng gọi ông bà nghe nó xa xôi quá.
- Nếu được ông bà cho phép, tôi sẽ theo ý ông bà.
Từ đó cách ông bà chủ đối xử với cậu khác hẳn. Một hôm, sau bữa cơm chiều cậu ngỏ ý: “Các sách anh chị cho muợn tôi đọc hết cả rồi, muốn được đọc thêm những sách khác. Xin anh có thể cấp cho một cái thẻ để vào viện bác cổ (thư viện) học thêm?”. Lời yêu cầu được thỏa mãn, mỗi ngày xong công việc cậu tới viện bác cổ. Cách đọc và học của cậu khác người: Cậu không đọc từng quyển mà chọn toàn bộ, lấy miếng giấy cứng ghi lại hết mục lục rồi nhét vào tà áo. Ra về, ngồi bàn thắp trầm chống tay lên cằm suy nghĩ, cứ mỗi lần như vậy kể như đã đọc hết bộ sách. Khi được hỏi về một biến cố, nhân vật lịch sử, cậu miêu tả cặn nguồn từ chuyện xảy ra ở nước nào, thời kỳ nào, tổ chức xã hội ra sao, nhân vật quyền bính, thời gian trị vì, khả năng, kiến thức, sự suy thịnh không sót một chi tiết. Một thời gian sau cậu nói với vợ chồng chủ nhà in:
- Xin cám ơn anh chị đã giúp đỡ cho tôi được học hỏi từ tất cả những sách vở nơi đây. Không còn gì để học thêm nữa, tôi muốn đi kiếm chỗ khác để học thêm.
- Tùy cậu, để anh chị gửi nốt số tiền lương để cậu làm lộ phí.
- Vâng cảm ơn anh chị, tôi chỉ xin mượn đỡ 2$ đủ tiền xe đò, số còn lại sẽ xin anh chị sau.
Cậu có ý là để gửi lại ơn giúp đỡ. Sau đó trở về quê xếp đặt thời biểu thảo hoạch tổ chức cách mạng.
- Hình Thành Tổ Chức Đại Việt Duy Dân Cách Mạng Đảng
Sau khi thụ huấn thêm qua cách hàm thụ khảo cứu và chiêm nghiệm, với sự hỗ trợ phụ họa của các cụ cố vấn đã mau chóng gây được ảnh hưởng lan truyền khá bề thế ngầm đối với những tầng cấp thức thời trong xã hội dẫn đến việc tạo dựng cơ sở cách mạng khắp vùng, miền gặp thuận lợi. Cơ cấu đầu tiên được thiết lập là một chi bộ mang ám số 0 do sư cụ Giác Ngạn đảm trách vì ông quan niệm những thành phần này ở thời đó đang có uy tín khá sâu đậm trong xã hội, hơn nữa phần đông thuần tuý trao đổi kinh điển qua chữ Nho, ít người biết chữ Pháp nên dễ bảo mật an toàn hơn và phần đông truyền bá những câu sấm Trạng cũng qua chữ Nho dễ hiệu nghiệm. Cơ sở thuộc tầng cấp sinh hoạt bình thường được xếp đặt theo thứ tự ám số từ 001 đến 012 và bí số là Linh 1, Linh 2… Linh 1 hình thành tại thị xã Lạng Sơn vì nơi đây đang nhộn nhịp hoạt động của phong trào Phục Quốc Quân, do đó sớm thu hút được những thành phần ưu tú của dân tộc nên đã tiến tới thành lập đảng bộ ngày 24-11-1940, cũng là ngày sinh nhật của ông. Tuy nhiên tổng hành dinh được chọn vẫn là trong phạm vi tỉnh Hòa Bình vì người bản xứ là sắc tộc Mường vốn là cái nôi siêu việt ngay từ thời lập quốc, phải được bảo tồn và phải là nơi chốn phát xuất cao trào phục quốc dựa theo truyền thống từ thời hậu duệ Viêm Đế Thần Nông. Ảnh hưởng ngầm được lan truyền khá bề thế nên ông đã cử người đi khắp miền tiếp xúc với những thành phần có uy thế ở các địa phương để hình thành tổ chức và lập luôn những khu chiến, gồm tất cả 5 khu chiến như Mường Măng, Mường Tè, Mường Pun thuộc địa hạt Hòa Bình và Thanh Hóa. Các cơ sở đồng bằng sinh hoạt theo hệ thống đường dây (Linh…) từ Linh 1 đến Linh 12. Tại Hà Nội mang bí số Biệt khu Thăng Long, ngoài ra còn có Lưu Hậu Đảng Bộ, Trung Tâm Cán Sự Bộ Sậu, Xích Long Vệ và Liên Chi Biệt Lập. Sau khi thiết lập 5 khu chiến và 12 Linh, tiến tới lập Tổng Đảng Bộ tại Hòa Bình ngày 1-1-1943, kế đó ông đi một lượt kiểm điểm các cơ sở, bố trí nhân sự giao phó trách nhiệm, chỉ thị đường hướng sinh hoạt, kế hoạch phát triển, củng cố theo hệ thống ngang và dọc để bảo mật cơ sở từ hạ tầng trở lên. Duy Dân không áp dụng mô hình tổ chức từ thượng tầng kiến trúc trở xuống mà tổ chức phát triển theo hình chóp nón từ dưới đi lên. Tuy nhiên các cơ sở được thiết lập và sinh hoạt chỉ có thể đáp ứng nhu cầu của Tiểu Việt tùy thuộc giai đoạn, chưa thể đáp ứng nhu cầu xa hơn theo chủ trương phải vận dụng một cuộc cách mạng hướng tâm cải tiến thiên nhiên, cải thiện nhân sinh để thăng tiến loài người, đồng thời phải phục hưng phục hoạt lại những nòi giống đã bị linh lạc, thể hiện chủ thuyết Duy Nhân và Duy Nhiên, ứng dụng nền tảng khoa học kỹ thuật và triết học đón đầu và lập lại nền văn minh mới cho nhân loại. Do đó trí sáng tạo phải được triệt để khai thác, vì vậy ông đã tranh thủ thời gian, quyết định vượt ngoài biên cương lãnh thổ để tìm tra cứu thêm những dữ kiện ẩn tàng quý giá của loài người chưa có người khai hóa. Chuyến công cán ngoại hiểm, thời gian tạm trú tại Liễu Châu thuộc đệ tam quân khu của Trung Hoa Quốc Dân Đảng đã giúp ông nhiều dữ kiện kỳ bí tuyệt tác, ông đã cô đọng vào tâm não và ghi lại qua những vần thơ sau:
Hồn Cố Quốc
Hồn ngược sóng ba sinh
Hồn về núi thu tinh
Chợ Cao Đăng đồng vọng
Cố quốc biết bao tình!
Nhàn Ngâm
Kinh luân chút nợ chửa yên tuyền
Nên liệu ba sinh phải báo nguyền
Thiết huyết thiên thu nhiều hạc đảo
Bạch Vân tể tướng mới thần tiên
Như không gặp gỡ ngày Ngô Thát
Thì đã du nhàn chốn phố Viên
Một chiếc hồ lô mươi hoàng quyển
Tiêu dao mây nội hạc chân huyền.
Dương Tử Giang Ngâm
Mây năm núi, gió năm hồ
Nghìn xưa bể Sở, sông Ngô thế nào?
Mây bay gió cuốn ra sao
Non kia nước ấy thấp cao những gì?
Mệnh ngày suy chửa hết suy
Biết đâu Cai Hạ mà vì Mịch La?
Gió mưa ta cũng một nhà
Mây quang gió tạnh đã là nghìn xưa
Câu non thức dậy hay chưa
Tấm lòng Dương Tử đợi đưa tin hồng.
Sau khi truy cứu nắm vững được những dữ kiện lịch sử, nhận định những diễn biến đang liên tiếp xảy ra suốt mặt địa cầu cùng sự thi thố sát phạt đang phô diễn của cuộc thế giới chiến tranh thứ hai do những tham vọng bất chính của loài người, tự cho mình là văn minh khoa học tiến bộ đã và đang đưa nhau đến bước đường hầm mất định hướng! Nhìn lại của Tiểu Việt các xu hướng hình thành những tổ chức yêu nước đã và đang ra sức củng cố vươn lên làm sứ mạng lịch sử trước những cam go thử thách, song đều là những tổ chức đã đi trước Duy Dân nên những thành phần ưu tú của nước nòi đã lao mình đáp lời sông núi không do dự. Do đó tổ chức Duy Dân với chủ trương bao quát toàn diện, triệt để và hướng thượng lại quyết định phải theo đường hướng tuyệt đối vương đạo, với tinh thần tự nguyện tự lực tự cường, bài trừ tận gốc những chủ trương hoàn toàn bá đạo. Nhu cầu tổng thể quá rộng lớn, phương tiện quá hạn hữu đã là một nan đề cam go để mang lại đáp số cho một bài toán khoa học cao độ mà trước sau phải tìm cho ra đáp số. Nhìn việc vận dụng định hướng của các tổ chức đấu tranh trong thời loạn đều nặng về hình thức khoa trương giành ảnh hưởng để thu phục tinh thần phục quốc, nhưng lại nhẹ về nội dung hành động dẫn tới phí phạm nguồn tài nguyên nhân lực cũng là một trở ngại lớn cho đường hướng của Duy Dân, đôi khi trở thành lãng phí! Tuy vậy, nhờ dựa vào những sơ sở thầm lặng do các thành phần có kiến thức và uy tín tại các địa phương nên cũng khắc phục được sự hỗ trợ cho tổ chức. Song song với việc tổ chức xây dựng cơ sở, đào tạo huấn luyện cán bộ trở thành một lý thuyết gia, một hành động gia và một đạo đức gia để lãnh trách nhiệm trong tổ chức khác nào đãi cát tìm vàng, còn phải nỗ lực hoàn chỉnh tu thư, chi tiết hóa các bộ tài liệu chỉ mới được tốc giảng thể như:
- Bộ Nhập Môn (mở quyển, 3 cuốn)
- Bộ Huyết Hoa (4 cuốn)
- Bộ Chu Tri Lục (10 tập 99 vấn đề)
- Bộ Đồng Nhân
- Bộ Duy Nhân Cương Thường (cơ năng hiến pháp)
- Bộ Thiết Giáo
- Bộ Việt Sử Thông Luận
- Bỗ Lễ Nhạc
- Bộ Tổ Đảng v.v…
Phần vụ nào cũng là nhu cầu cấp thiết, xếp đặt lịch trình sao cho thích nghi để đáp ứng cũng là một nan đề, ngoài ra còn phải ứng phó kịp thời với các xu hướng diễn biến để nắm vững thời cơ cho hữu hiệu.
Trở lại thời kỳ tạm lưu trú tại Liễu Châu, sau khi hay tin Trùng Khánh phủ gửi cho ông một bức công điện muốn mời ông hợp tác với chính phủ Trung Hoa Quốc Dân Đảng, cụ Nguyễn Hải Thần cho người mời ông [Lý Đông A] gặp cụ, cụ đã thảo luận cùng ông và giúp ông 30 người võ trang dẫn đường hộ vệ cùng với số anh em cơ hữu của ông về nước. Từ mối liên hệ đó mà sau ngày các tổ chức tiếp thu chính quyền qua cuộc họp tại Hà Nội ngày 19-8-1945, cụ Nguyễn cho người mời ông để tham khảo ý kiến về việc có nên hợp tác với Hồ Chí Minh không. Ông đã mạnh dạn và thẳng thắn trình bày với cụ: “Thưa cụ, Hồ Chí Minh cũng là người có tài nhưng vô cùng xảo quyệt, không thể nào tin được, còn việc hợp tác hay không là quyền nơi cụ!” Thời gian sau khi bị Hồ Chí Minh lừa gạt bội phản, cụ có cho người tới tìm ông nhưng ông chỉ có thể biên thư bằng chữ Hán cho người liên lạc với cụ, nhưng người này đã bị sát hại ở Lạng Sơn nên thư không đến được tay cụ Nguyễn. Người đưa thư là anh Nguyễn Đức Nhuận trực thuộc ‘Linh 1’ do anh Nguyễn Văn Nghiêm điều hành. Cũng trong thời gian này trên đường bôn tẩu sang Trung Hoa, cụ có nhắn một số anh em Việt Quốc nên hợp cùng và giúp đỡ tăng cường cho chiến khu Nga My của Duy Dân, sự kiện diễn tiến gồm 5 chiếc thuyền đinh theo giòng sông Đáy trên đường vào chiến khu Nga My. Trong bối cảnh khẩn trương giữa lúc tình thế bất lợi cho các tổ chức quốc gia đang diễn ra, ông Lý Đông A đã dùng phương pháp ngoại cảm để theo sát tình hình, sau đó ông tập trung một số anh em nòng cốt trong khu chiến để báo tin: “Hiện đang có cuộc chuyển quân bằng đường thủy, đang trên đường đi tới, đều là bạn không phải địch nhưng rất khó đến tay ta!” Mấy ngày sau đó có tin báo vào khu chiến, tất cả đã bị cộng sản phục kích bắt tại khúc sông Gián Khuất không sót một ai! Đó là 261 người mà anh em chúng tôi đã làm lễ giỗ theo thông lệ hàng năm suốt mấy chục năm qua vào mỗi ngày 25 tháng 12 âm lịch. Xin nhắc lại số người sau khi bị bắt nhốt, chân bị cùm tay bị trói quặt lại phía sau. Hồ Chí Minh đã dụ tên Lý Bá Sơ dùng búa đóng đinh lần lượt đập nát đầu từng người, óc phun tứ tung. Hành động xong tới trình diện, Hồ Chí Minh ôm hôn tên đó và hạ lệnh cho Trần Quốc Hoàn là trùm công an thời đó phải ghi công trạng của Lý Bá Sơ, tặng nhị đẳng bảo quốc huân chương và dĩ hậu nếu Lý Bá Sơ có lỡ giết lầm 4 [bốn] người trở lên mới được xét xử, và kể từ nay về sau trại giam này được đổi tên là trại Lý Bá Sơ.
Sau thời gian 261 người bị cộng sản bắt không lâu, ông Lý Đông A (LĐA) nhân danh tối cao Thư ký trưởng của tổ chức tập họp tất cả anh em trong khu chiến Nga My để nhận định tình hình: “Không bao lâu nữa cộng sản sẽ tấn công chiến khu này, chúng ta sẽ không chống đỡ nổi, vậy tất cả anh em phải phân tán về các địa phương để rút vào hoạt động bí mật”. Đa số anh em đã khẩn cấp thi hành nhưng 5 người thề ở lại để chết với khu chiến, ông đã chiều ý và cùng ở lại. Quả nhiên 3 ngày sau cộng sản huy động một lực lượng lối 5000 người hầu hết là dân quân quanh vùng lân cận, dùng toàn giáo mác, gậy búa đến bao vây khu làng đồi núi rồi gõ phèng la hô xung phong, một số ít có võ khí thô sơ nhưng trong khu chiến chỉ còn lại 5 tay súng trường. Sau những loạt chống trả, 2 trong số 5 anh em tử thương, 3 người còn lại chịu số phận bị bắt giữ. Ông Lý được mấy người dân bản xứ dùng xuồng ba lá chở đi thoát.
Sau khi chiến khu Nga My bị tan, các chiến khu khác hoang mang như rắn không đầu, cho người liên lạc về khu chiến Hòa Bình vì phỏng đoán bộ phận cốt yếu có thể đã rút lên Hòa Bình, nhưng khi đến nơi đều được anh em trong bản (làng) buồn bã trả lời: “Ông chủ đi rồi, ông chủ không có đây nữa đâu!” Trở lại với chủ trương ban đầu, bản doanh dự kiến thiết lập lại bản Xiên Cao (phiên âm là chiến đào) Hòa Bình, nhưng sau lại chọn Nga My thuộc huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình vì thuận tiện cho việc giao liên từ rẻo Nga My và Xích Thổ đi qua Ỷ Na xuống đồng bằng thông ra Nho Quan dễ dàng, trở ngược lên Chi Nê toả về phía Hà Nam cũng được và đi ngang sang chợ bến chợ bờ lên Hòa Bình, cũng thuận đường liên lạc với các khu chiến Thanh Hóa, hơn nữa những bản này vẫn là những sắc dân gốc Mường nên giữ bí mật dễ hơn các nơi khác, do đó ông chọn lại Nga My làm trọng điểm.
Thời gian trước có lần đi xem địa lý với cụ đồ Mạnh, ông đã chọn [đồi] kế cận làm thí điểm để tu luyện ngoại cảm chiêu hồn nước. Ông chọn địa bàn chính giữa có 5 ngọn đồi chung quanh tượng trưng cho ngũ lĩnh Thái Sơn, nơi xuất phát nền văn hóa và văn minh Viêm Việt. Sau khi thiết lập cơ sở này ông cùng một số anh em cư ngụ tạm dựng một ngôi miếu, ông lựa chọn ngày tháng rồi cứ từ 11 giờ đến 1 giờ khuya lúc anh em đã yên nghỉ không còn bất cứ một tiếng động nào kể cả muông thú, ông lẳng lặng tu luyện đúng 100 đêm liên tục. Cụ Đồ Mạnh tính thời gian quá 2 ngày sau mới lên đường vào thăm lại nơi đây. Anh chị em ngủ từ 10 giờ đêm, cụ nằm chờ tín hiệu. Sang đêm thứ 2 cũng 10 giờ ông vào phòng chỗ cụ nằm đưa tay bấm ngón chân cái bên trái, cụ biết ý dậy đi theo ông ra trước bàn thờ trong ngôi miếu, ông nói:
- Tinh anh của nòi giống Bách Việt bị linh lạc trên 300 năm nay rồi tôi thử triệu về xem có còn không?
- Còn thì sao mà hết thì sao?
- Còn thì cứu dân cứu nước được mà hết thì chịu thua!
- Vậy còn không?
- Còn.
Anh Nguyễn Văn Nhật (Thái Nhiệm), người được giao phó chu tất khu bàn thờ, tự nhiên một đêm ông đi vào khu bàn thờ thấy bát nước cúng không còn một giọt, ông hỏi anh Nhật:
- Bát nước cúng chú để đâu rồi?
- Em khát nước quá trót uống hết rồi!
Ông vỗ tay lên trán kêu lên: “Thôi thế là lỡ một cơ hội rồi!”.

Cụ Đồ Phạm Văn Mạnh (giữa hình, chống gậy) là cố vấn cho Lý Đông A về phong thuỷ địa lý. Bìa trái là ông Vũ Hoàn. Kế bên ông Hoàn là bà Nguyễn Thị Nga, một trong những đảng viên tiền phong của Duy Dân). Hình tư liệu của ông Vũ Hoàn.
Sau hơn 3 năm đi theo ông Lý, khi về lại vùng quê Sơn Tây anh luôn tỏ ra người thông thái khác thường khiến ai cũng ngạc nhiên, mặc dầu anh chỉ học hết lớp hai trường làng. Khi di cư vào Nam anh đã viết và ấn hành 3 cuốn sách nói về sinh mệnh của dân tộc liên hệ với chủ nghĩa Z [Duy Dân] khiến anh em trong tổ chức vô cùng thán phục. Đó là những yếu tố và nguyên nhân liên quan đến việc lựa chọn lập chiến khu Nga My là nơi làm tổng hành dinh (tổng bản doanh) cho tổ chức. Anh Nguyễn Đình Chiểu (Chiểu còi) kể lại kỷ niệm trong chiến khu Nga My, anh nói: “Tôi hơn ông Lý 10 tuổi, nhớ một buổi cuối thu sau bữa cơm chiều vào khoảng 8 giờ tối, ông rủ tôi lên đồi hóng mát, khi đi qua rặng ổi tôi hái quả ổi ương ương mời ông ăn thử, ông nói:
- Đêm nay trăng đẹp quá, anh làm thơ đi.
- Tôi đâu biết [gì] mà làm thơ.
- Vậy anh lấy bút giấy ra ghi lại nhé.
Đó chính là bài:
Nga My Nguyệt
Nguyệt giải Nga My nguyệt ý dài
Nguyệt tình thiên cổ nguyệt vì ai?
Nguyệt đưa chiến sĩ lên non Thục
Nguyệt dẫn anh hùng đến suối Thai
Nguyệt dõi ba sinh hồn cố quốc
Nguyệt treo tái thế niệm tương lai
Nga My đêm tỏ soi vầng nguyệt
Nguyệt với ta chung một cảm hoài.
Khi đi xuống đồi trở về, ông nói: “Hôm nay tôi thực sự là người và anh cũng mới thực sự là người, chỉ khi nào thực sự làm gì cho đất nước mới được kể là người. Anh Chiểu nói năm đó anh 28 tuổi và ông Lý 18 tuổi. Anh kể tiếp cuối năm 1953 được anh Lê Quang Luật đề cử anh chức phó tỉnh trưởng rồi làm tỉnh trưởng Ninh Bình. Anh đã qua đời tại Ý năm anh được 83 tuổi. Nhắc tới anh Chiểu lại nhớ tới anh Lê Quang Luật là người đã đứng ra tổ chức phong trào Thanh Niên Công Giáo Tiến Hành từ 1952, cả hai anh Chiểu và Luật đều thuộc “linh 8” do anh Trần Thanh Đình lãnh đạo, đường dây này thuần túy [gồm] những anh chị em Công Giáo suốt rẻo Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình. “Linh 2 đa số anh em thuộc Hà Đông, Sơn Tây do ông Đoàn Viết Nhân [Thái Nhân] trách nhiệm; nhóm anh em Phan Sào Nam ở Sài Gòn cùng thuộc “linh 2”. Nhân đây xin nói luôn kẻo e sau này anh em trong tổ chức lại thắc mắc khó giải đáp thỏa đáng về cách xưng hô của anh em Z [Duy Dân], thuần nhất gọi nhau bằng các anh chị, không gọi là đồng chí. Sở dĩ có 2 tiếng đồng chí là bắt nguồn từ bài Tiến Quân Ca của anh Nghiêm Xuân Chi, câu đầu tiên như sau: “Đoàn quân Việt ta đi chung cùng chí hướng, quyết tâm thề phanh thây diệt lũ sài Lăng…” Việt cộng sau khi thủ tiêu anh Nghiêm Xuân Chi, ép Văn Cao lấy bản nhạc này đặt lời khác rồi đem đoạn chữ “đi chung cùng chí hướng” ra giải thích cho nhau và gọi tắt là đồng chí, kể từ đó tiếng đồng chí đã bị lạm dụng nên anh em Z đã diễu cợt là đồng chí bố đồng chí con. Mỗi khi anh em gặp lại nhau luôn có câu nói đùa diễu: “Lâu lắm nay mới gặp được đồng chí!”
Kể từ sau hiệp định Genève 20-7-1954 khi đã di cư vào miền Nam, không liên lạc được miền Bắc nên chỉ xin ghi lại những sinh hoạt của anh em Z tại miền Nam Việt Nam: Tuy không nắm được quyền nhưng được kể là tiêu biểu gồm có 5 người, anh Trần Thanh Đình, Trần Văn Từ, Nguyễn Văn Tiến (Đức Bình), Phạm Thanh Giang và Phạm Văn Tâm (Thái Lăng Nghiêm). Người được anh em kính trọng nhất là anh Trần Văn Từ nhưng anh luôn khiêm nhường không sẵn sàng nhận trách nhiệm tổng quát. Anh Trần Thanh Đình đã hướng dẫn chúng tôi tới giới thiệu với một số quý cụ có ảnh hưởng ngầm tại miền Nam, anh nói đây là những vị cách mạng sạch tại địa phương như cụ Nguyễn Văn Đính, bác sĩ Hồ Văn Nhật, cụ cựu Đốc phủ Huỳnh Công Thanh là hội trưởng hội ‘Thượng Công Quý Tế’ thờ Tả quân Lê Văn Duyệt (thường kêu bằng Lăng Ông). Tự thấy lớn tuổi rồi không thể tiếp nối được công việc chung nên anh chỉ có thể nhận lãnh trách nhiệm hiệu chỉnh các tài liệu, còn việc tổ chức và hành động xin giao lại cho chúng tôi. Tuy nhiên anh nói đây là những anh em có khả năng và năng động mà anh đã lựa chọn mới dám giao cho tôi. Tôi hỏi lại:
- Anh đã trên tôi cả chục tuổi, mấy anh kia có người trên cả tuổi anh, làm sao tôi có thể điều động?
- Anh yên trí, những anh em mà tôi đã giao cho anh, tôi nói hết với tất cả rồi, không ai dám cưỡng lại. Anh nói tiếp:
- Tôi xin nói trước có bóng đèn, đây là lòng thành của tôi, xin anh đừng do dự từ chối.
Anh Đức Bình là người đã vào miền Nam cùng anh Trần Văn Mùi ngay từ năm 1952, anh đóng vai thầy giáo dạy học ở vùng 4. Sau khi anh Mùi bị ám sát bằng lựu đạn, anh trở lại Sài Gòn để tiếp nối việc chung, thân hữu tại Sài Gòn chỉ biết anh qua nghề dạy học nên thường gọi bằng bác giáo. Anh đã bị sát hại khi bị cảm, vào điều trị tại bệnh viện ở Lâm Đồng năm 1979. Trường hợp Thái Lăng Nghiêm tuy tạo được môi trường tại thượng nghị viện nhưng không thể ứng dụng được việc, một số anh em đồng nhận xét với chúng tôi là Thái Lăng Nghiêm càng sáng tác lại càng đi xa, đi ra ngoài quy trình Z. Còn anh Phạm Thanh Giang có lẽ chỉ giữ nguyên bản chất cố hữu, rất khó hòa nhập trong anh em. Nhớ lại cuộc đối thoại giữa chúng tôi và anh Đức Bình: “Xin anh giải thích mấy câu thơ trong Đạo Trường Ngâm – Lục lục hồng hồng chẳng phải xa?”. Anh trả lời: “Lục là màu xanh, màu tươi thắm như chữ ‘lục’ ở tài liệu ‘Chu Tri Lục’. Tôi không ưng ý, tôi cho rằng câu thơ này mang tính cách phú vịnh và tiên liệu thời gian, thời điểm để mang lại sự vui tươi. Điều này đã ứng nghiệm 6×6 = 36 năm, kể từ 1946 đến 1982 mới thực sự liên lạc với “mặt trận gốc” qua trung gian. Tuy nhiên qua sứ điệp đã cho nhận được, bút tích ở tập thơ vô danh vô đề 192 bài và 188 đoạn, mỗi đoạn 4 câu tựa đề “những ghi chép vụn vặt” ngay từ cuối năm 1980, từ quốc nội bí mật phát tán ra hải ngoại. Xin ghi lại theo thứ tự và ý tứ đã nhắn gửi:
Đoạn thứ 3: Tôi có những mảnh tình đau nhức
Ngập vào tim, bưng tấy, lấy không ra
Lý trí của tôi, người bác sĩ già
Vết dao kéo nhiều phen, đành bất lực
Đoạn thứ 18:
Lòng xưa có một vầng Đông
Tháng năm dìm đắm, giữa dòng chìm đâu?
Đông buồn dần xám mái đầu
Lòng leo lét ngọn đèn sầu chờ mong…
Đoạn thứ 28:
Khi còn mơ “Chân trời cộng sản xa xăm”
Cơ mở miệng là “Mai-A tốt lắm!”
Nhưng “Chân trời cộng sản xa xăm” cũng không lấy gì làm xa cho lắm
Mai-A đã nhìn và đã nhờ viên đạn giúp đôi mắt mình được nhắm
Đoạn thứ 45:
Tim với óc đau với mơ với ước
Năm rồi năm Thân giữa nứa ken dầy[3]
Ôi ngoài kia giòng sông chảy đêm ngày
Mang sức sống qua bao miền đất nước!
Đoạn thứ 68:
Tuổi tôi xuân ấy, xuân 16 [(1936)]
Đời nắng và hoa, mơ cưới thơ
Tuổi tôi xuân tới, hai mươi sáu [(1946)]
Nhạt nắng tàn hoa, thơ khóc mơ
Đoạn thứ 119 (Nhắc lại những đau đớn thất thoát về sinh mạng của tổ chức):
Nó chết đi hơn năm trăm người
Thương tiếc nào ai đoái một lời
Riêng có thằng điên người khắm thối
Thằng què cám hấp khóc mà thôi
Đoạn thứ 115 (Kiểm điểm lại những lần quật khởi, mưu chước, toan tính nhưng thời cơ chưa thuận nên đành tím gan nuốt hận):
Đôi mắt sắc không muốn nhìn dấu sắc
Trái tim đen luôn khao khát dấu huyền
Óc sinh liều gạch dấu hỏi thường xuyên
Đời do đó ngổn ngang toàn ngã nặng!
Đoạn thứ 142 (Nhắn nhủ, giữ sự nhường nhịn để gắn bó đạt nghĩa cả):
Tình cảm cần chăm sóc tới nơi
Nó là của quý ở trên đời
Nâng như nâng trứng còn khi vỡ
Xin chớ vô tình để lỡ rơi
Đoạn thứ 156 (Nhắc nhớ mọi tầng cấp, khắp hoàn cầu phải hết sức thận trọng đề cao cảnh giác trong mọi trường hợp để khỏi mắc lừa cộng sản):
Vì sống một ngày ở trên đất Bắc
Bằng nơi khác sống ngàn thu!
Nên một bà nhà quê trên đất Bắc dù ngu
Cũng hiểu cộng sản đúng hơn nhiều chính trị gia hoàn cầu xuất sắc
Đoạn thứ 163 (Tiếng kêu gọi tự đáy lòng của nhân chứng được coi như nạn nhân lâu năm trong địa ngục cộng sản, xin đừng lãng quên):
Mười mấy năm sống giữa lao tù
Sống giữa buồng tim chế độ
Tôi đã hiểu tận cùng bể khổ
Mà trước đây phật tổ hiểu lơ mơ
Cũng trong tập thơ nói trên một bài mang tựa đề “Thư nhà” gồm 35 câu, dưới ký tên “Thầy mẹ của con”, nội dung:
Đã lâu rồi không nhận được thư con
Mẹ thầy mong tin con quá
Thầy kể cho con rõ cảnh nhà
Mẹ bây giờ hai mắt đã lòa
Hôm sớm trong nhà quanh quẩn
Thầy gần như lẩn thẩn
Bước đi đờ đẫn run chân
Viết phong thư phải nghĩ tới dăm lần
Mong con về đỡ đần chăm sóc
Nghĩ đến con mẹ thầy lại khóc
Không biết con còn ở nơi trại cũ
Hay là đã chuyển đi đâu?
Mẹ vẫn nguyện cầu
Cho con được bình yên, không ốm yếu
Nhận được thư này con liệu
Viết về, thầy mẹ đợi tin con
Ôi, xưa kia cũng chỉ vì con còn trẻ dại
Suy nghĩ sai lầm, kêu ca khổ ải
Con phải thực lòng hối cải
Đảng mới khoan hồng tha tội cho con
Có thế thầy mẹ mới mong thấy mặt con
Trước lúc không còn sống nữa!
Thầy mẹ chẳng biết nói gì hơn nữa
Chỉ tha thiết khuyên con giữ gìn sức khoẻ
Tuổi con còn trẻ
Con còn phải sống con ơi!
Thầy mẹ vẫn tin ở đất trời
Không nỡ hại người lương thiện
Hôm vừa rồi thầy đã ra bưu điện
Gửi cho con đôi tất của thầy
Phải đợi kỳ tiền hưu trí quý sau
Thầy sẽ mua gửi con, cho con đỡ ốm đau
Thôi cuối cùng, thầy mẹ mong con phấn đấu
Lao động đi đầu, thi đua xây dựng trại
“Thầy mẹ của con”
Tôi [Vũ Hoàn] đã nghiên cứu rất kỹ 192 bài thơ cùng 188 đoạn, mỗi đoạn 4 câu mang tựa đề “Những ghi chép vụn vặt” trong tập thơ vô danh vô đề này, chúng tôi đã trích ghi lại một số bài và những câu nhắn nhủ liên hệ mật thiết với tổ chức, đã ghi ở đoạn trên. Để một lần nữa minh xác với anh em trong tổ chức nơi hải ngoại mãi đến đầu năm 1982 tôi mới thực sự nhận được “thư nhà” vã đã lập tức hồi đáp, mang nội dung:
“Kính thầy,
Kính thầy mẹ cùng gia đình quyến thuộc
Con nhận “thư nhà” gần được hai năm
Mãi đa đoan nên chậm hồi âm
Xin thầy mẹ thương tình tha thứ
Nhìn tương lai con ôn về quá khứ
Vì hậu sinh nên chẳng được gần cha
Bậc trưởng huynh đài danh vọng phải bôn ba
Con cô quạnh không người dạy dỗ
Biết thầy già trong cõi lòng nát đổ
Mẹ xanh gầy nguồn an ủi lớn bao la
Con xa cha mẹ tự nhiên già
Nhớ thầy mẹ lệ nhoà đôi vai nặng
Nhớ khi trước còn bình sinh bác Mạnh
Cảm thương tình con được nhận chút điều răn
Thân cá chim bên chài lưới tung quăng
Nhờ ơn đức ngàn trùng con thoát hết
Nhớ lại chuyện xưa thần chết
Hồn hiện về báo mộng cạnh bên cha
Thầy thở dài…
Ôi! Tháng ngày sao cứ mãi dài ra?
Rồi khuyên nhủ mấy người trong kiếp trước
Quãng đường đời con tha hương lỡ bước
Gặp Vân Trường Tôn Tẩn cảm thông vui
Bằng hữu con cùng chia ngọt sẻ bùi
Trong lặng vắng con tuân lời chỉ giáo
Tim sắt son đúc thành đồ gia bảo
Con ưu tư trong năm dấu: Nặng, sắc, ngã, huyền
Vạn thiên thư, vạn thiên thư buổi nguyên niên
Từ Thân, Dậu, Tuất, mẹ hiền sinh Quý Hợi?
Con cày bừa gieo trồng và mong đợi
Cầu một ngày hoa mai trên ghềnh đá nở bên cha
Mái tranh xiêu con không phút phai nhòa
Tin Thượng Đế tất trời đâu nỡ phụ
Đức: Ân cha từ ngàn xưa ấp ủ
Đạo: Mẹ hiền nhắc nhủ lũ con côi
Nghĩa: Cao thâm kỳ diệu khúc đàn hồi
Vì: Hiếu thảo nên được người kính mến
Nghĩ: Cảnh nhà cùng họ hàng thân quyến
Xin: Gỗ, tre con tự ghép thành đàn
Tới: Đêm trăng con dạo khúc Nghê Thường
Hiến: Thầy mẹ dân làng cùng ca hát
Bên: Đồi nương vui lúa vàng bát ngát
Suối: Reo hò xin điểm trống sang canh?
Đọc: Thơ con thầy chỉ giáo ngọn ngành
Đây: Con út côi hàn tên thằng Vũ
Đội: Ơn cha với muôn điều nhắc nhủ
Gió: Dịu hiền xin đức độ gia công
Tay: Tay run run lệ thắm dòng
Giấy: Trắng tinh con thấy hiện màu hồng
Kính: Thầy mẹ chúc họ hàng vui khoẻ
Kính thư,
Con của thầy mẹ, Vũ…”
Đêm 14-3-1982
*****
Mọi sách lược đều đã được san định và chi tiết hóa, bắt nguồn từ những bài thơ trong “Đạo trường ngâm”, nếu bất cứ ai trong tổ chức thực tâm lưu ý đến những tình tiết ý tứ nhắn nhủ của tối cao Thư ký trưởng đều nhìn rõ mồn một, điển hình qua mấy câu trong bài:
Đại Việt Âm
(Tấu nhạc)
(Xin trích một đoạn)
Lẽ tam thế hy sinh là quốc phổ
Như con em Tổ Tông công đức mãi lưu dành
Kìa những ngày nông phục phiên bình
Lại những thuở cầm hồ đoạt sáo
Nhạc bình Ngô ca quỳnh uyển dập dình
Vàng chảy, bạc sinh, gió tơ, mưa lúa
Cờ vạn thắng công thái bình
Hội rồng mây cơ hiển thánh
Cực võ công văn trị cảnh vinh quang
Há một ngày nên được nghiệp vương hoàng
Bao gan nát óc lầy đan thanh hàng huyết lệ v.v…
Chỉ cần hiểu một câu “Lẽ tam thế hy sinh là quốc phổ”: Công việc cứu dân cứu nước là việc phải làm hàng năm hàng đời, hàng thế kỷ, không phải ngày một ngày hai tháng này tháng sau hay năm này năm sau như các dịch vụ thương mại hoặc thời vụ hoa màu. Nếu muốn thâu đạt ngay trước mắt chỉ có cách đi buôn hàng chuyến hoặc giả, làm Việt gian bán đất bán biển cho ngoại bang như cộng sản Việt Nam đã và đang làm, cách này mau làm giàu nhất không nghĩ đến Tổ Tiên nòi giống! Ngược lại chính những thành phần có ý thức kiến thức thực lòng yêu nước yêu dân lại là những người phải tự hy sinh trước, chịu thiệt thòi trước và nhiều nhất. Điển hình như cụ Hà Triều Nguyệt đương đời thời đó là một ông quan Tri Châu như một ông vua miền núi tỉnh Thanh Hóa, con trai là ông Hà Công Thắng (mang bí danh ông Đạo Thắng) luôn ngự trên lưng bạch mã, kẻ hầu người hạ đi vào cửa quyền thuộc hệ thống cai trị của Pháp như chỗ không người. Quan Tri Châu thân phụ của ông này lại chính là cái dù lớn che chở cho ông con và tổ chức. Đến nay cháu nội của ông tên Hà Công Minh đã vào lứa tuổi 70, đã là sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũng đã phải đi tù cộng sản 6.5 năm. Như vậy chẳng phải hy sinh đến 3 đời rồi đó sao? Còn biết bao trường hợp tương tự như 3 anh em nhà họ Đinh ở tỉnh Hòa Bình là Đinh Quách Mạc Nhược, người em út tên Đinh Công Tuân theo Pháp làm tới chức Chánh lãnh binh tức là tỉnh trưởng kiêm luôn quân đội; người anh kế tên Đinh Công Liết theo Việt cộng đã lên tới chức trung đoàn trưởng từ năm 1951. Riêng người anh cả tên Đinh Công Lâm quyết tâm theo đuổi mục tiêu cách mạng dân tộc, cam chịu mọi thiếu thốn hy sinh nghèo khổ, năm 1971 ông qua đời tại Ban Mê Thuột, tổ chức phải phụ gia đình làm lễ an táng. Trường hợp Luật sư Lê Quang Luật ngay từ thời Pháp nhận giấy bổ dụng đi làm quan tri phủ, ông đã khước từ để theo cách mạng, không lập gia đình, khi cựu Thượng thư Ngô Đình Diệm được cựu Hoàng Bảo Đại đề cử giữ chức thủ tướng đã mời ông Luật giữ chức đại diện chính phủ miền Bắc (chức thủ hiến trước kia). Ông di cư vào Nam không tham gia chính quyền nữa, sống nhờ bằng hữu hỗ trợ để hoạt động cách mạng. Ông đã qua đời vào năm 1979 tại Sàigòn sau khi anh Trần Thanh Đình, hiệu trưởng trường Nhân Chủ (trước 1975) bị cộng sản hành quyết tại Thủ Đức về tội chống cộng sản! Trước khi bị bắn, cộng sản hỏi anh có muốn nói gì lời cuối cùng? Anh yêu cầu bỏ khăn bịt mắt để anh nhìn đất nước lần chót rồi anh nói: “Tất cả mọi người phải nhớ kỹ đây toàn là người Việt, không có Tây, Tàu, Mỹ, Nga gì cả. Hãy bắn ta đi!”. Nếu còn sống năm nay [2007] anh đúng 97 tuổi. Những người tham gia tổ chức từ khởi điểm đa số đều ở lứa tuổi như anh. Riêng đối với các cụ nếu còn đến nay ở vào tuổi 110 trở lên. Điểm đặc biệt của Duy Dân thời đó các anh các chị tham gia tổ chức, số người ngang tuổi lãnh tụ rất ít, nhỏ hơn lại càng hiếm, có lẽ chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Nhắc lại đoạn 119 trong tập thơ vô danh vô đề từ miền Bắc gửi ra hải ngoại năm 1980 cũng là năm Canh Thân, năm ông [Lý Đông A] vừa tròn 60 tuổi. Kiểm điểm lại đã có trên 500 người trong mặt trận gốc đã vĩnh viễn ra đi, đã được ông ghi vào tập thơ [vô đề. Sau này có người đặt tên cho tập thơ là Hoa Địa Ngục hay Tiếng Vọng Từ Đáy Vực] để nhắc nhớ anh em:
“… Thương tiếc nào ai đoái một lời
Riêng có thằng điên người khắm thối
Thằng què cám hấp khóc mà thôi…”
Nhân đây cũng xin ghi lại những anh chị em đã tham gia tổ chức [Duy Dân], lỡ mai kia không có hoàn cảnh là một sơ sót khó tha thứ. Tuy nhiên trí nhớ chỉ có giới hạn, kính mong các anh chị thông cảm. [Vì lý do an ninh, chúng tôi chỉ liệt kê một số. Danh sách thấy có 141 tên. TD].
Cụ cố vấn Nguyễn Văn Khuê (thầy đồ)
Cụ cố vấn Phạm Văn Mạnh (địa lý)
Trần Thanh Đình (giáo sư)
Lê Quang Luật (luật sư)
Nghiêm Xuân Hồng (luật sư)
Nghiêm Xuân Chi (nhạc sĩ)
Phạm Văn Tâm (thượng nghị sĩ)
Nguyễn Văn Mỡi (giáo sư, triết gia)
Trần Văn Từ (hiệu trưởng trường Phan Sào Nam)
Đào Văn Dương (giáo sư)
Đoàn Viết Nhân (thương gia)
Nguyễn Ngọc Huy (bác sĩ tim)
Chị cả Chính (dạy tiếng Pháp)[4]
Chị giáo Chỉnh (dạy học)
Chị giáo Nghiêm (dạy học)
Anh giáo Nghiễm (dạy học)
Cụ Chánh Chanh (thầy thuốc)
Anh Chính Đạo (già Huệ, khước từ thụ phong linh mục)
Nguyễn Sĩ Hưng (giáo sư)
Lê Vinh (Trần Thái Hồ, giáo sư)
Lê Văn (Vũ Bắc Tiến, nghệ sĩ)
Nguyễn Văn Noãn (cựu tỉnh trưởng)
Lê Quang Oánh (linh mục)
Thích Tâm Giác (hòa thượng)
Thích Độ Lượng (thượng tọa)
Thích Đức Nhuận (hòa thượng)
Thích Tâm Châu (hòa thượng)
Sư cụ Thích Giác Ngạn (trụ trì)
Nguyễn Xuân Chữ (bác sĩ)
Hà Triều Nguyệt (tri châu)
Hà Công Thắng (con tri châu)
…
Một số cá biệt cũng cần nhắc lại như ông già Huệ (anh Chính Đạo) đã ba lần toà giám mục Công Giáo mời anh nhận chức, thụ phong linh mục anh đều khước từ, chắp tay xá và nói: “Xin cho con được khất vì con còn nặng nợ với dân tộc. Anh Quang Khàn từ Bắc vào Nam chuyên sống lưu động để phục vụ tổ chức, không lập gia đình. Chị cả Phượng (Nguyễn Thị Phượng) con gái lớn của một tri phủ, [được] Thượng Thư Ngô Đình Diệm cầu hôn, chị khước từ. Chúng tôi thường nói đùa nếu chị chịu lấy quan thượng tư hồi đó, bây giờ tụi em được nhờ. Chị viết văn tế bằng chữ Nho rất hay; chị Đức Thụ là người chuyên đọc văn tế do chị viết. Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ được mời giữ chức thủ tướng chính phủ, anh đã mời một số anh em lại hội ý và nói: “Nếu tôi nhận, phải áp dụng đường lối văn hóa Z, làm được hay không là trách nhiệm chung của anh em”.
Kiểm điểm lại 140 người [sau ghi tay thêm một người là Đinh Công Lâm (Hòa Bình), chết 1972 Buôn Mê Thuột] trong danh sách phía trên, hiện 27 người còn sống, 113 người đã qua đời vì đủ lý do, trường hợp khác nhau. Nếu tổng cộng số anh chị em trong tổ chức đã qua đời tính đến nay: 261 bị Lý Bá Sơ giết bằng búa (theo lệnh Hồ Chí Minh); 146 trước 1964 (danh sách văn tế năm 1964); 110 người trong danh sách chúng tôi ghi nhớ; trên 500 người từ mặt trận gốc. Như vậy mới kiểm điểm sơ cũng đã có trên một ngàn người anh chị em trong tổ chức [Duy Dân] đã vĩnh viễn ra đi.
Suốt trong thời gian vắng tối cao Thư ký trưởng [Lý Đông A], y cứ khẩu lệnh, tất cả các cơ sở âm thầm hoạt động dưới danh nghĩa các đoàn thể hiệp hội, do đó đã tránh được những thiệt hại lớn sau mỗi lần biến động của đất nước. Tuy nhiên sau 1-11-1963 và trước 30-4-1975, một số anh em đã ấn hành 4 bộ tài liệu: Huyết Hoa, Thiết Giáo, Duy Nhân Cương Thường và Chu Tri Lục với lý do thất truyền, bị một số anh em khác phản đối đã làm lộ tổ chức. Được sự uỷ nhiệm của Liên Chi biệt lập, chúng tôi đã diện kiến nhóm chủ trương ấn hành, nhận thấy anh em đã có phần thận trọng để lại những chi tiết tối mật trước khi ấn hành, sau đó đã chấm dứt việc thắc mắc kể trên. Bốn tài liệu đã ấn hành tuy có bỏ bớt một số chi tiết tối mật nhưng đủ cung ứng cho việc nghiên cứu và học hỏi. Sau ngày 30-4-1975 cũng đã được phổ biến khá quy củ nơi hải ngoại đối với thành phần người Việt lưu vong. Rất tiếc lớp người được nhận tài liệu mang danh kiến thức đã không đủ kiến thức để lãnh hội, ngay cả một số anh em được theo nhập tổ chức cũng đã hiểu chệch hướng nên vô tình biến thành công cụ của cộng sản triền miên cả hai ba thập niên mới chợt tỉnh ngộ! Tối cao Thư ký trưởng đã hoạch định chủ trương đường hướng cho công cuộc “cách mạng hướng tâm” của tiểu Việt [tức Việt Nam trong đại chủng tộc bách Việt] nói riêng và ứng dụng cho nhân loại nói chung đã quá rõ ràng, không dấu diếm anh em trong tổ chức, điều duy nhất là đòi hỏi cái tâm thành. Thực hiện công cuộc cách mạng hướng tâm mà chính tâm mình còn không thành làm sao lãnh hội được, nói gì đến việc hướng tâm cho kẻ khác! Do đó chẳng những đi chệch hướng mà còn mất luôn hướng đi là điều chắc chắn phải xẩy ra. Như đoạn trên chúng tôi đã đề cập, 9 bộ tài liệu được tối cao Thư ký trưởng biên soạn trong tình thế nhiễu nhương, nước nhà đang bị cưỡng chế bởi hai thế lực ngoại bang Pháp và Nhật, ngoài ra còn ba bốn kẻ thù không kém phần nguy hại đang lấp ló nhảy vào ăn có. Trong khi dân trí đa phần còn quá yếu về ý thức hệ do chính sách ngu dân của thế lực ngoại xâm đã đầu độc mê hoặc đè nặng, do đó phần biên soạn dù muốn hay không cũng mang tính chất cô đọng cao độ, đòi hỏi người tìm học phải có sự quyết tâm vững chí mới thâu đạt được những ý chính, đồng thời mới có thể triển khai ứng dụng có hiệu năng. Tất cả các bộ tài liệu được khai triển từ cốt lõi của tập thơ “Đạo Trường Ngâm” và ngược lại. Do đó tập thơ vô danh vô đề được gửi ra hải ngoại năm Canh Thân 1980 đã mang chủ đích san định để 3 tầng cấp khác nhau có thể thẩm thấu được. Tuy mỗi bài một đoạn đều mang một sắc thái cá biệt, biểu hiện cho mỗi thực trạng của từng bối cảnh đã, đang và sẽ xẩy ra cùng vạch rõ đường hướng đi tới, điều đó đã là quy luật vận hành chung cuộc không thể chệch hướng.
Để làm sáng tỏ thêm những ý chính mà chúng tôi vừa lược giải, xin trích nguyên văn đoạn chót của bài thơ “Đồng Lầy” mà chúng tôi nhận thức đây là một bài Đại Hịch hoặc Đại Cáo Trạng để mọi tầng cấp, xu hướng dễ phần nhận thức:
Rồi đây,
Khi đất trời gió nổi
Tàn hung ơi, bão lửa trốn vào đâu? Bám vào đâu?
Lũ chúng bay dù có điên đầu
Lo âu, phòng bị
Bàn bạc cùng nhau
Chính đám sậy lau
Sẽ thiêu lũ bây thành tro xám!
Học thuyết Mác, một linh hồn u ám
Không gốc rễ gì trên mảnh đất ông cha
Mấy chục năm phá nước hại nhà
Đã tới lúc lũ tông đồ phải lôi ra pháp trường tất cả!
Song bay vẫn tiệc tùng nhật dạ
Tưởng loài cây khỏe chặt đi rồi
Không gì nghi ngại nữa!
Bay có biết sậy lau gặp lửa
Còn bùng to hơn cả đề, đa
Những con người chỉ có xương da
Sức bật lật nhào tung hết!
Hoa cuộc sống, đảng xéo dày mong nát chết
Nhưng mà không, sông núi vẫn lưu hương
Mỗi bờ tre, góc phố, vạn nẻo đường
Hương yêu dấu còn thầm vương thắm thiết
Nếu tất cả tâm hồn đang rên xiết
Không cúi đầu cam chịu sống đau thương
Nếu chúng ta quyết định một con đường
Con đường máu con đường giải thoát
Dù có phải xương tan thịt nát
Trong lửa thiêng trừng phạt bọn gian ma
Dù có chết chưa trông thấy nở mùa hoa
Thì cũng sống cuộc đời không nhục nhã
Thì cũng sống cuộc đời oanh liệt đã!
Nếu chúng ta đồng tâm tất cả
Lấy máu đào tươi thắm tưới cho hoa
Máu ươm hoa, hoa ươm máu chan hòa
Hoa sẽ nở muôn nhà muôn vạn đóa
Hoa hạnh phúc tự do muôn giá
Máu căm hờn phun đẫm mới đâm bông!
Đất nước sa vào trong một hầm chông
Không phải một ngày thoát ra được đó
Con thuyền ra khơi phải chờ lộng gió
Phá xích, phá xiềng phải sức búa đao
Còn chúng ta phải lấy xác làm bè
Lấy máu trút ra tạo thành sóng nước
Mới mong nổi lên vùng đồng lầy tàn ngược
Năm bảy cây sào cứu nạn trên cao
Tiếp súng, tiếp gươm bè bạn viện vào
Phá núi, vén mây, đón chào bão lộng
Mới có thể tiến vào hang động
Tiêu diệt yêu ma, thu lại đất trời
Thu lại màu xanh, ánh sáng cuộc đời
Câu chuyện dài, cuộc sống ngắn, chao ôi!
Nỗi chờ mong thắm thiết mãi trong tôi
Tôi mong mỏi một tiếng gì như tiếng ầm vang dội
Một tiếng gì sôi nổi con tim
Đã bao năm rồi teo chết nằm im
Trong những quan tài hình hài hèn đớn
Âm tiếng đó dội ngang qua các trại tù, trại tập trung rùng rợn
Làm suy nghĩ lũ quân thù trâu lợn
Tái tạo niềm tin cho tất cả những ai
Đã gần như tuyệt vọng ở ngày mai
Lũ lau gầy, reo hò, trông nó
Âm tiếng đó gây thành giông gió
Khắp đại dương cùng khổ âm u
Chớp xé trời đen, báo hiệu lũ quân thù
Giờ huỷ thể!
Tôi mong mãi tiếng gì như tiếng ầm vang của bể
Đồng bào tôi cũng mong như thế
Tôi lắng nghe
Hình như tiếng đó đã bắt đầu
Nhưng tôi hiểu rằng đó là tiếng của lịch sử dài lâu
Nên trời đêm dù thăm thẳm ngòm sâu
Dường như vô giới hạn ở trên đầu
Tôi vẫn nguyện cầu
Vẫn sống và tin
Bình minh tới, bình minh sẽ tới
Cờ vương đạo đương ngang trời phấp phới
Tôi vẫn mơ chân lý tận xa vời
Tới lùa tan ngàn vực tối trên đời
Trong hào quang dữ dội hiển linh!
Muôn ầm ầm chấn động trời thinh
Báo hiệu bình minh sét nổ
Ôi, ghê sợ cả một trời phẫn nộ
Cả một trời đau khổ khôn lường
Đã bao ngày nén xuống thảm thương
Dưới tận đáy đồng lầy tủi hổ
Sẽ tràn dâng như sóng gầm thác đổ
Bọn quỷ yêu sẽ đến ngày tận số
Máu lũ bay hoen ố cả nền trời
Kèn tự do đắc thắng nơi nơi
Khai mạc bình minh khôi phục cuộc đời
Ôi tôi sống và tôi chờ đợi
Ngày triệu triệu trái tim bừng nổ tung trời
Đêm đồng lầy lõm bõm sương rơi
Cú rúc, trăng buồn
Rười rượi
*****
Trở lại tập thơ “Đạo Trường Ngâm”, trong bài
Hứng Ngâm
Sao được chiến sĩ vài ngàn muôn
Cùng ta giong ruổi khắp doanh hoàn
Lập lại non sông xưa Bách Việt
Dựng nên thế giới mới Duy Dân
Chèo sang một bến cực lạc
Vớt lấy năm bể trầm luân
Làm tròn giấc mộng tiền sinh ấy
trở lại non sâu nhập niết bàn
Mang cùng ý tưởng thể hiện qua tập thơ vô danh vô đề từ miền Bắc Việt Nam gửi ra hải ngoại năm Canh Thân 1980:
Tôi Nằm Trên
Tôi nằm trên chốn cao xanh
Luôn rơi luôn ngã quẩn quanh hết đời
Quản chi hồn xác tơi bời
Quản chi phàm thế những lời cay chua
Tôi ôm ảo tưởng lọc lừa
Ôm bình rượu độc say sưa tàn đời
Nhiều phen lòng ngỡ rụng rời
Nâng bình rượu lại chuốc mời cao siêu
Đời ơn, dầu tới xế chiều
Xá chi rượu hỡi có điều đừng vơi!
Mỗi khi rơi xuống cõi đời
Nghiêng bình cạn chén cõi trời lại lên
Lại về thăm thẳm tầng trên
Lại về xanh ngắt kề bên ru hời
Rổi tới một thời điểm việc đến cũng đương nhiên phải đến qua bài thơ ngắn gọn mấy câu dưới đây:
Vài Cánh Dơi
Vài cánh dơi chập chờn nơi cổ miếu
Rừng ngả dần màu hiểm bí âm u
Gió đìu hiu thoang thoảng lạnh hơi chiều
Sương ẩm ướt bắt đầu rơi phủ
Trong lặng vắng vút ngân dài tiếng hú
Vài cánh chim lạc lõng vội bay về
Lời tối tăm vang dậy khắp bốn bề
Tiếng ếch nhái côn trùng trong cỏ nước
Người lữ khách giật mình chân rảo bước
Bản mường xa có kịp tới qua đêm?
Cái giá phải trả, đã trả và đang trả, việc đến đang đến và phải đến. Thảm họa của loài người sẽ tuần tự nhận lãnh, phải kinh qua một cuộc đã lọc vô tình tự, một cuộc thảm sát tối vô nhân đạo và một cuộc đảo lộn khắp bến bờ kim cổ, chúng tôi đã nhắc lại nhiều lần trong chương trình [truyền thanh tại quận Cam] “Giòng Sinh Mệnh Việt” suốt mấy năm qua từ bài 1 đến bài 90. Mong rằng mọi người đừng để chệch hướng, mọi diễn biến đang xẩy ra “Táo Tạo Niềm Tin Cho Tất Cả Những Ai-Đã Gần Như Tuyệt Vọng Ở Ngày Mai”.
California June 20-2007
Hè Đinh Hợi (4,886 TV)
Vũ Hoàn Thái Tuấn A[5]
—————————–
[1] Bên dưới tựa đề có ghi “Hải Ngoại Vụ”. Nhưng theo chúng tôi được biết, Lý Đông A đã ra lệnh giải tán Tổng Đảng Bộ từ 1945, trước khi cộng sản nổi lên cướp chính quyền và ra lệnh tất cả các Cán sự bộ (tương đương chi bộ) phải rút lui, chìm vào đáy tầng, vừa tự hoạt động, vừa bảo tồn và phát huy văn hóa Việt. TD
[2] Z: Viết tắt của hai chữ Duy Dân.
[3] Canh Thân 1920 là năm sinh của Lý Đông A
[4] Bà Cả Chính, có người con cả đi theo Lý Đông A từ nhỏ rồi sau đó “thất tung” theo ông. Tên bà được Trần Đĩnh nhắc đến trong cuốn Đèn Cù. Một nguồn tin cho biết sau 1975, Võ Nguyên Giáp thân chinh vào Nam gặp bà đề nghị biếu tặng một căn nhà nhưng bà từ chối. (CN 15-3-2025)
[5] Ông Vũ Hoàn sinh năm 1923 tại Núi Đèo, quận Thuỷ Nguyên, tỉnh Quảng Yên nay thuộc Kiến An, là cựu công chức tại Sài Gòn trước 1975. Sau khi định cư tại Mỹ, ông từng là chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam Nam California 1992-1994. Ông là tác giả cuốn Giòng Sinh Mệnh Việt (2017).
*****
ĐẢNG DUY DÂN và VỊ TỔ KHAI SÁNG
LÝ ĐÔNG A
*** *** ***
Lý Trường Trân
Trong lịch sử các cuộc tranh đấu chính trị, dành Độc lập cho đất nước, và xây dựng tương lai cho dân tộc Việt Nam, chưa có Vị lãnh tụ chính trị nào trẻ trung, kiến thức uyên thâm, có một hệ tư tưởng nhân chủ và nhân bản làm cơ sở cho một học thuyết đem lại Hòa Bình và hạnh phúc cho Dân Tộc, kêu gọi đoàn kết trong tình yêu thương tập thể, bằng người cha đẻ ra chủ nghĩa Duy Dân: Cụ Lý Đông A.
Người lãnh tụ chính trị này, lúc hoạt động có nhiều hành tung bí mật, từ việc đi đứng, liên lạc, huấn luyện các đảng viên rất kín đáo, miên mật, khi ẩn khi hiện, đến không ai biết, đi không ai hay, như phong thái của một Thiền sư, đến lúc biến hẳn trên chính trường cũng không lưu lại một dấu vết nào, ngoài những tác phẩm mang đầy triết thuyết chính trị, và tư tưởng thậm thâm vi diệu, mà đến nay, nhiều nhà trí thức và chính trị gia chưa hiểu nổi thâm ý qua các tác phẩm lưu lại như: Đạo Trường Ngâm, Huyết Hoa [Trên trang Thắng Nghĩa Lý Đông A mang tên Tiểu Luận Thắng Nghĩa], Chu Tri Lục, Duy Nhân Cương Thường, Thiết Giáo. Nhân vật chính trị trẻ trung và kỳ bí ấy, mà trong giới tranh đấu chính trị hay nhắc đến dưới tên Lý Đông A là cha đẻ của chủ thuyết Duy Dân và cũng là người sáng tạo ra đảng Duy Dân mà sự mất tích của Vị lãnh tụ nầy rất tiếc đã đến quá sớm, lúc chưa đầy 28 tuổi.
1- THÂN THẾ
Lý Đông A tên thật là Nguyễn Hữu Thanh, sanh ngày 3 tháng giêng năm 1921 tại làng Yên Tập, tổng Yên Đỗ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (Bắc Việt) cách tỉnh lỵ 12 cây số, cạnh đường cái quan Nam Định – Hà Nam.
Năm 14 tuổi, cậu Thanh thi đỗ bằng Tiểu học Pháp Việt. Vì nhà nghèo, không thể tiếp tục học lên trung học, cậu theo học chữ Nho với một ông đồ ở làng tên là cụ đồ Đào. Khi học, cậu luôn luôn đặt những câu hỏi [với] Thầy để tìm hiểu sự việc đến nơi đến chốn. Sau 6 tháng học thông thạo chữ Hán, khi nghe Thầy giảng về lý Tam Tài (ba ngôi: Trời, Đất, Người), thì cậu ta đặt ngay câu hỏi với Thầy là: Trong ba ngôi thì con Người có ảnh hưởng gì đến Trời, Đất? Và trái lại Trời, Đất có ảnh hưởng gì đối với Người? Cụ đồ không biết trả lời sao, nên [đã đặt câu hỏi] nhân dịp đi viếng chùa Phủ Lý Nhân để thăm vị sư trụ trì Chùa, là cụ Phạm Mạnh Sinh, một người 2 lần đậu Tú Tài, và đồng hoạt động cách mạng với Cụ Phan Bội Châu. Vị viện chủ chùa vui vẻ nhận cậu Thanh vào làm đệ tử để bổ túc Hán Văn và học thêm Phật học. Sư Cụ Trụ Trì chùa khoe với một đồng chí của Cụ, có tham gia trong vụ nổi dậy ở Yên Bái, rằng Cụ có một đệ tử rất thông minh, đã hỏi cụ những câu hỏi về Kinh Dịch và lịch sử cận đại, mà Sư Cụ thấy khó trả lời, nên nhờ đồng chí ấy giúp đỡ bằng cách đưa cậu ấy vào Huế để gặp và nhờ Cụ Phan Bội Châu, đang bị quản thúc tại đấy, nhân dịp rằm tháng giêng, đất Thần kinh đang tổ chức lễ tế Nam Giao, công an Pháp ít lưu ý.
2- CUỘC GẶP GỠ VỚI CỤ PHAN BỘI CHÂU
Sau khi được giới thiệu với Cụ Phan, cậu Thanh được kết nạp vào làm một câu bé lo điếu đóm hầu hạ cụ Phan, và vì còn nhỏ tuổi, lại ăn mặc nâu sồng, nên ít người để ý. Sau khi tìm hiểu kiến thức của cậu Thanh, cụ Phan bắt đầu giảng về kinh Dịch, và các triết học Đông phương, và so sánh các tư tưởng của Karl Marx, với các tư tưởng của Montesqieu hay Rousseau, rồi Cụ Phan truyền tất cả kinh nghiệm của 20 năm hoạt động chính trị của Cụ trong nước và hải ngoại. Cậu Thanh hỏi cụ Phan: Dân tộc ta nên theo chủ nghĩa nào, Duy Tâm hay Duy vật? Cụ Phan trả lời: DÂN CHẲNG DUY VẬT, DÂN CHẲNG DUY TÂM, DÂN CHỈ DUY DÂN, và vì câu trả lời này, Cậu Thanh mới quyết tập trung tư tưởng để xây dựng chủ thuyết Duy Dân. Sau một tháng sống bên cạnh cụ PHAN, Cậu Thanh nhớ kỹ càng những lời dạy bảo, nói đến đâu nhớ đến đấy, chẳng cần ghi chép. Cụ Phan nhắn cụ Phạm Nửu tức là Cụ Hải Kình biết việc huấn luyện cậu Thanh đã xong, nên vào Huế đem cậu Thanh trở về đất Bắc. Khi từ biệt, lúc đưa 2 người ra cổng, cụ Phan vỗ vai cậu Thanh và nói: Cháu là viên ngọc quý, Ba mẹ cháu chắc tu nhiều kiếp mới sanh ra cháu. Chú kỳ vọng nơi cháu thật nhiều. Để kỷ niệm buổi chia tay, Chú tặng cháu một tấm ảnh với 4 chữ ghi ở phía sau: “Cứu quốc tồn chủng”, cháu có thể xử dụng nó như một bức thư giới thiệu của Chú với các đồng chí của Chú, mỗi khi cháu cần gặp. Quay sang Cụ Hải Kình, Cụ PHAN nói: “Chúng ta đã già rồi, chúng ta phải tìm cách ủng hộ cho thằng cháu, vì theo tôi, nó chính là tương lai của chúng ta và của cả Dân tộc”.
Sau một tháng xa nhà, trở lại làng Yên Tập, cậu Thanh rất vui mừng vì được khích lệ bởi cụ Phan, vị cha già dân tộc; mừng vì được học hỏi thêm những kiến thức làm bừng cháy, tâm tư thổn thức trong lòng. Vì nghèo, nên không có tiền học lên trung học, cậu nhờ ông anh cả là Nguyễn Hữu Loan, lớn hơn cậu 10 tuổi, gởi cậu lên Hà Nội ăn học, ở nơi nhà cụ Dương Thái Ban, phố Sinh Từ, một nơi tụ họp các nhà hoạt động cách mạng đương thời.
Cậu Nguyễn hữu Thanh dành một ít tiền do ông anh thỉnh thoảng gửi cho, ghi tên vào học ở một trường tư thục, không phải học để dự thi khoa bảng, nhưng để học môn nào cậu thấy cần bổ túc để nắm cho được cái cốt tủy của khoa học, sử học và các triết học Tây Phương, với mục đích phối hợp văn hóa Tây Phương với văn hóa Đông Phương mà cậu đã tiếp thu được từ Sư Cụ Chùa Phủ Lý Nhân với Cụ Phan Bội Châu. Cậu đến Thư Viện Quốc Gia Hà Nội đọc rất nhiều sách, đọc rất nhanh và nhớ rất nhiều. Thỉnh thoảng ghé lại Chùa Quán Sứ đọc kinh sách Phật Giáo và thảo luận với các nhà sư trẻ, và về nhà Cụ Ban, thì cậu lại để ý theo dõi các buổi hội luận của những chí sĩ cách mạng thời đó, không phân biệt các xu hướng khác nhau, chỉ nghe nhiều hơn là nói, vì nghĩ rằng khi nuôi chí lớn, không cần phải nói nhiều…
3- BĂNG SƠN TẦM ĐẠO
Trong 2 năm học ở Hà Nội, cậu Nguyễn Hữu Thanh cố gắng sắp xếp các tư tưởng thành một hệ thống lý luận. Năm 1938, cậu xuống cảng Hải Phòng xin làm cho một hãng buôn, dành được một số tiền, và quyết lên núi Yên Tử, vào Chùa để đọc kinh sách và suy tư. Thường lệ… cứ mỗi chiều tà tắt những ánh nắng trên núi Yên Tử, cậu Thanh ra ngồi dưới các cội thông già, dưới chân đồi để lắng tâm suy nghĩ. Trong buổi chiều đắm đuối trong trạng thái tĩnh lự, sau này anh kể lại với một đồng chí Duy Dân là Phạm Thanh Giang, anh bỗng nhìn thấy trước mặt một vòng hào quang sáng rực như vầng Thái dương, các tư tưởng trong đầu đều như quyện lấy hào quang và chan hòa vào trong Vũ trụ. Nhắm mắt lại, anh bỗng thấy những ưu tư, những mâu thuẫn, những thắc mắc bỗng tan biến, tất cả các tư tưởng được sắp xếp thành một hệ thống rất thứ tự, và chặt chẽ như một phương trình minh bạch, và như vậy cậu đã khám phá ra biện chứng Duy Dân.
4- GIA NHẬP PHỤC QUỐC QUÂN
Rời núi Yên Tử, mùa thu năm 1939, khi được biết Pháp tuyên chiến với Đức-Quốc-Xã, anh tìm cách tiếp xúc với các nhà cách mạng đàn anh là Sư Cụ Chùa Phủ Lý Nhân và Cụ Hải Kình. Qua năm 1940, Pháp đầu hàng, Nhật tiến chiếm Đông Dương và muốn làm áp lực với chính quyền Pháp tại VN, Nhật đã yểm trợ cho tổ chức Việt Nam Phục Quốc Hội của Hoàng Thân Cường Để làm Hội Trưởng, và do cụ Phan Bội Châu sáng lập tại Hải ngoại, trong ấy có 2 vị sĩ quan cao cấp người Việt Nam trong hàng ngũ quân đội Nhật tên là Đoàn Kiểm Điểm và Trần Trung Lập, đóng tại Lạng Sơn. Họ tập hợp được một số quân nhân VN theo quân đội Pháp và quân đôi Nhật cùng một số thanh niên yêu nước từ các thành phố tìm lên gia nhập để thành lập lực lượng Phục Quốc Quân.
Cụ Hải Kình nhờ một người bạn trong tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng quen thân với các chỉ huy Phục Quốc Quân, giới thiệu cậu Nguyễn Hữu Thanh với 2 tướng Đoàn Kiểm Điểm và Trần Trung Lập. Sau khi tiếp kiến để tìm hiểu khả năng cậu thanh niên nầy, 2 vị chỉ huy lấy làm ngạc nhiên về kiến thức uyên bác về chính trị và kinh nghiệm lịch sử của cậu thanh niên nầy, nên họ đồng ý mời cậu Thanh làm Ủy Viên chính trị của lực lượng PHỤC QUỐC QUÂN. Anh đề nghị bắt đầu chia thành từng nhóm để thuyết trình về mục tiêu cứu quốc của Đoàn. Anh nói về những kinh nghiệm lịch sử trong các cuộc đấu tranh chính trị, cùng anh em luân phiên đi phục kích, và hướng dẫn từng nhóm tiếp xúc với đồng bào, để cổ động tiếp tay cho đoàn quân phục quốc. Công việc bố trí đang tiến hành, thì nghe được tin quân Pháp nhựợng bộ cho quân đội Nhật tiến từ Lạng Sơn xuống đến hữu ngạn sông Hồng, và Nhật phải đình chỉ ủng hộ nhóm Phục Quốc Quân. Pháp tiến chiếm lại Lạng Sơn khi Nhật vừa rút đi, nên trong trận đụng độ giữa Pháp và Phục Quốc Quân, Trung tá Trần Trung Lập bị bắt và bị xử tử, Thiếu tướng Đoàn Kiểm Điểm bị chết tại trận vì không còn được Nhật yểm trợ nữa. Sau khi Trần Trung Lập bị giết, một số Phục Quốc Quân bị Pháp bắt và đem giam ở trại Sơn La cùng chung với các cán bộ nòng cốt của Cộng Sản như Trần Huy Liệu, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy… và chính đám này đã lập công với Pháp bằng cách tố cáo mỗi khi có anh em Phục Quốc Quân trốn trại. Một số anh em Phục Quốc Quân thoát được sự vây bắt của Pháp đã theo cậu NGUYỄN HỮU THANH chạy qua Tàu tỵ nạn. Đó là bài học đau thuơng đầu tiên mà cậu Nguyễn Hữu Thanh đã học khi bước chân vào đời hoạt động chính trị, tạo cho ông ta có quan niệm rõ ràng: Đừng tin người, phải tin vào chính mình, vào lực lượng của chính mình, lực lượng của người ngoài chỉ là phụ thuộc. Trong thời gian cậu Nguyễn Hữu Thanh tức là Lý Đông A, hoạt động trong Phục Quốc Quân thì được tin Cụ Phan Bội Châu ngã bệnh, và mất tại Huế ngày 29 tháng 12 năm 1940. Trước khi qua đời, Cụ đã để lại một bài thơ buồn vô hạn, trong đó có mấy câu dưới đây:
Những ước anh em đầy bốn biển,
Nào ngờ trăng, gió nhốt ba gian.
Sống xác thừa mà chết cũng xương tan.
Câu tâm sự gởi chim ngàn cá biển
Nay đang lúc tử thần chờ trước cửa
Có vài lời ghi nhớ về sau
Chúc đàn hậu tử tiến mau.
Trong đàn hậu tử này, chắc có chú bé Nguyễn Hữu Thanh, mà cụ PHAN đã đặt rất nhiều kỳ vọng.
5- THỜI GIAN TỴ NẠN Ở TRUNG QUỐC
Bỏ nước chạy sang Tàu là một điều đau xót nhất đối với Ủy Viên chính trị Nguyễn Hữu Thanh, một ngươi đầy ắp hồn sử, hồn anh là hồn sử, đầy những trang sử chói lọi của dân tộc Việt. Anh nhớ đến bài thơ của Lý Thuờng Kiệt phá quân Tống, bài thơ của Trần Quang Khải “đoạt sáo Chương Dương độ” chống quân Nguyên Mông, vì vậy, đối với anh, chạy sang Tầu tỵ nạn là một việc bất đắc dĩ. Họ dìu dắt nhau đến Liễu Châu để tìm phương kế nuôi sống anh em, tổ chức lại hàng ngũ, và người đầu tiên anh tìm tới là Cụ Nguyễn Hải Thần, lúc ấy là Trung Tướng của quân đội Tưởng Giới Thạch. Khi gặp cụ, cậu Nguyễn Hữu Thanh đưa bức ảnh của Cụ Phan Bội Châu với 4 chữ “Cứu quốc tồn chủng”. Mới liếc mắt qua, cụ Nguyễn Hải Thần vui mừng vồ lấy chàng thanh niên trẻ này, khi thấy bút tích của cụ Phan sau mấy chục năm xa cách. Sau một hồi thảo luận về nhu cầu cấp bách, cụ Nguyễn sẽ bàn thảo với tướng Trương Phát Khuê, Tư lệnh quân khu Hoa Nam để mở trường huấn luyện cán bộ quân sự, dành riêng cho thanh niên VN tỵ nạn. Cậu Nguyễn Hữu Thanh xin ghi tên gia nhập. Anh chỉ có tên trong danh sách các học viên, nhưng không có mặt trong lớp, vì trong khi anh em học tập thì cậu Nguyễn Hữu Thanh vùi đầu trong Thư Viện để đọc những sách nghiên cứu về chiến tranh, về tương quan giữa chính trị và quân sự và giữa quân sự với giáo dục. Anh đọc rất nhiều, rất mau, chăm chú và không mệt mỏi, và khi về phòng, anh thường đi qua, đi lại, tiếp tục suy nghĩ, nhiều khi nhức đầu chóng mặt, anh lấy khăn, thấm nước lạnh, quấn quanh đầu, rồi ngồi xuống ghi vào sổ tay. Tuy miệt mài đọc sách, anh vẫn liên lạc với Cụ Nguyễn Hải Thần. Tuy tuổi tác xa cách nhau, nhưng cụ vẫn gọi Anh là hiền đệ và xưng là ngu huynh, và rất khâm phục kiến thức uyên bác sâu rộng của Anh. Cụ mời anh gia nhập vào ban Bí Thư của Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội và giới thiệu Anh với cái tên là Lý Đông A, do anh tự chọn. Đông A là chữ Nho, do chữ TRẦN phân ra làm 2 thành chữ A và chữ Đông. Lý Đông A có nghĩa là LÝ TRẦN, hai thời đại cực thịnh của Dân tộc VN. Và bắt đầu từ đó, cái tên LÝ ĐÔNG A đã đi vào lịch sử của Dân tộc. Do sự mến mộ của Cụ Nguyễn Hải Thần, mỗi khi viết thư, Cụ lúc nào cũng bắt đầu bằng cách xưng hô Lý tiên sinh nhã giám, và anh em ở Liễu Châu đã công nhận Lý Đông A là một lý thuyết gia uyên bác. Lúc ấy, có một nhóm gồm 7 người từ VN qua đến Liễu Châu do nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam cầm đầu năm 1941, xin cụ Nguyễn Hải Thần sắp xếp để gặp Lý Đông A, nhưng họ Lý chỉ định 3 cán bộ đến gặp. Nguyễn Tường Tam không thỏa mãn, nhưng sau đó chỉ định thêm 3 cán bộ để gặp, nhưng nhà Cách Mạng Nguyễn Tường Tam vẫn chưa hài lòng về sự giải thích, và lần thứ 3, đích thân Lý Đông A đến tìm gặp Nguyễn Tường Tam. Ông đã so sánh sự khác biệt giữa thuyết bình quân của Đại Việt Dân Chính Đảng của ông Tam với thuyết Đồng Nhân của Duy Dân, cuối cùng ông Tam đồng ý với họ Lý là thay vì dùng võ lực để bành trướng đất đai theo thuyết Dân Tộc Sinh Tồn Không Gian như Đảng Quốc Xã Đức chủ trương, thuyết Đồng Nhân của Duy Dân đưa tới sách lược hòa bình, liên hiệp với các dân tộc nhược tiểu ở Đông Nam Á, dùng cụm từ “Liên Hiệp Đông Nam Á Thái Bình Dương” thay vì dùng cụm từ “Cộng Hòa Liên Bang Đại Nam Hải”, và có như vậy mới mong chận được sự bành trướng của Trung Quốc về sau. Nên sau nầy trong năm 1943 tại Hà Nội, Lý Đông A thuyết trình lại cho nhà văn Hoàng Đạo, lý thuyết gia của đảng Đại Việt Dân Chính Đảng. Hà Tố Lý, cử nhân luật khoa thuộc nhóm 7 người gặp ở Liễu Châu cũng hoàn toàn đồng ý với Lý Đông A, và sau đó họ Hà đã xin gia nhập vào đảng Duy Dân.
Nhân vật thứ 2 đến tìm gặp Lý Đông A là Hoàng Văn Hoan, một cán bộ cao cấp của Đảng Cộng Sản Đông Dương. Đối thoại với ông Hoan, Lý Đông A trình bày thuyết TAM NHÂN (Nhân Bản, Nhân Chủ, và Nhân Tính) và đưa ra kế hoạch hòa bình lâu dài cho dân tộc. Hoàng Văn Hoan nghe rất thích thú, gật đầu tán thưởng nhưng rất tiếc, thời điểm đó, năm 1942, Hồ Chí Minh đã bắt liên lạc được với đám Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp và đã thành lập chiến khu Việt Bắc, lôi Hoàng Văn Hoan vào cơn lốc CS, nhưng trong thâm tâm nhân vật nầy vẫn còn có cảm tình với lập thuyết của Lý Đông A.
Nửa năm 1943, Lý Đông A dốc toàn lực viết tập “Quốc Sách Thảo Án Toàn Pho”. Và thế chiến tại Âu Châu có chiều ngã ngũ khi Hoa Kỳ nhảy vào vòng chiến. Lý Đông A có ý định hồi hương, trình bày với Cụ Nguyễn Hải Thần và được Cụ đồng ý. Và để đánh lạc hướng những kẻ theo dõi, Cụ Nguyễn sẽ viết một lá thư giới thiệu với Tổng Thống Tưởng Giới Thạch kèm theo bức ảnh của Cụ. Nhưng thay vì đi Trùng Khánh để gặp họ Tưởng thì Lý Đông A đi về VN sau khi đã nhận của cụ Nguyễn Hải Thần một ít tiền đủ tiêu dùng khi về nước… Kế hoạch trở lại quê hương được giữ bí mật giữa 2 người, không ai biết, vì Lý Đông A tiên đoán sẽ có biến chuyển tại VN khi thế chiến thứ 2 chấm dứt.
6- TRỞ VỀ ĐẤT VIỆT
Từ Liễu Châu đi về VN phải qua Nam Ninh, nhưng để đánh lạc hướng đối phương, ông ngược về phía Đông Bắc để đi Quế Lâm, với nỗi buồn dân tộc còn đè nặng trong đầu. Tới Quế Lâm, ông tìm gặp được một đồng chí: Ông Thái Việt. Thấy Lý Đông A mặc chiếc quần tây trắng, trên áo veston đen, trong người mang đầy tài liệu, họ rủ nhau về phòng trọ. Ngồi chưa ấm chỗ thì Công An đến khám xét. Lý Đông A trình bày đủ giấy tờ, kể cả thư của Cụ Nguyễn viết cho Tưởng Giới Thạch. Công An chào xin lỗi, rồi bỏ đi. Hai người cần viết lẹ để chép làm 2 tập “Duy Dân Chủ Nghĩa Thảo Án Toàn Pho”, để gửi 1 bản cho Cụ Nguyễn Hải Thần. Thái Việt tỏ ý muốn theo về VN nhưng họ Lý thấy cần giữ hành tung bí mật, nên chưa tiện lúc, nên chia tay trong niềm thương tiếc để lại trong một bài thơ cảm động như sau, tựa là [Chiến Sĩ Tư].
CHIẾN SĨ TƯ
1- Chợt thức mình một gối
Xào xạc lá sương mai
Lạnh lùng con quẹt rối
Nao lòng nhớ những ai.
2- Những thanh niên Lạc Hồng
Lăn mình chốn tang bồng
Từ bỏ nơi yên ấm,
Gian khổ vì non sông.
3- Ngày kia khói ải bay
Khoác áo ra đi ngay
Từng bao thừa sống chết
Son sắt dạ khôn lay.
4- Vào ra hang hùm beo
Bạt thiệp chốn hiểm nghèo,
Đói rét thân gầy rạc
Lẩn lút mạng cheo leo.
5- Cách biệt đầy nhung nhớ,
Phong quang ít lúc chung,
Đàn chim rừng ríu rít,
Cất cánh đã bay tung.
6- Một ngày mai chiến sĩ,
Một văn minh hùng vĩ,
Một triết học đẩy nên,
Nghĩa DUY DÂN đồng chí./.
[Ghi chú: Bản chính của bài thơ có 14 đoạn thay vì 6]
Những người theo dõi ông đã bị đánh lạc hướng vì ông thay đổi lộ trình, đi đường sông và không dùng đường bộ. Khi cập bến, tới biên giới Cao Bằng, qua một khúc sông nhỏ, cách hang Pắc Pó, nơi ẩn trú của Hồ Chí Minh không xa, Lý Đông A bồi hồi cảm xúc trước con sông nhỏ tên là Pắc Nậm qua bài thơ sau đây:
Ta đã về, đứng bên bờ Pắc Nậm,
Mặc heo may quấn quýt hồn cố hương,
Thấm hàng cây lấp ló những ven tường,
Hòa làn khói, mơ màng bao nhớ ước.
Cách dòng nước, ta là người mất nước
Nước non ta ai ngăn trở ta về?
Thấy người quê, không được tỏ tình quê
Rõ trước mắt mà tìm đâu cho thấy,
Hãy hét lớn, hai bàn tay nắm lấy,
Hãy khua tan, quân địch của Rồng, Tiên
Hãy làm cho giống Việt lại đoàn viên.
Quê nước ở trong đáy dòng sống máu.
Quê nước ở trong đáy dòng sống máu.
Đợi lúc thuận tiện, Lý Đông A lẻn qua biên giới, tạm trú tại nhà thân phụ của một đồng chí Duy Dân, và vài ngày sau, ông có mặt tại Hà Nội để bắt đầu một giai đoạn đấu tranh mới. Khác với hầu hết các lãnh tụ cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam hay Nguyễn Thái Học, Lý Đông A sống độc thân, lối sống không cố định và hoàn toàn lưu động thoắt đi, thoắt đến, nên khó ai theo dõi được, và chủ trương “vào ý ra việc” chớ không chủ trương “vào ý ra lời”, và tránh những cuộc tiếp xúc vô bổ.
7- VỀ SỐNG LẠI Ở HÀ NỘI
Trở về Hà Nội, ông tạm trú tại chùa Quán Sứ, mặc quần áo màu khói hương như một cư sĩ trẻ thuần thành, nên mật thám Pháp ít để ý. Không có tiền xử dụng, ông nhắn với ông anh cả là Nguyễn Hữu Loan, bán một sào ruộng được 42$00, đủ dùng trong một năm, và lặng lẽ đi tìm những người bạn cũ. Đa số đã vào đại học hay đang băn khoăn đi tìm một tổ chức Cách mạng Dân tộc có chủ trương và đường lối rõ ràng hợp lý, và chi bộ Duy Dân đầu tiên được thành hình, và sau khi huấn luyện Chi bộ nầy xong, ông rời Hà Nội, về thôn quê nắm tình hình và kiếm thêm đồng chí mới. Trong bộ quốc phục màu xám nhạt, một mình với chiếc xe đạp, ông di chuyển khắp nơi, đến thăm cụ Hải Kình, viếng chùa Đổng Đác, vào tận Thanh Hóa, Nghệ An, trở về Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên và thỉnh thoảng tạt qua Hà Nội lấy tin tức.
8- MỘT NHÂN VẬT CỐT CÁN: BÀ CẢ CÀ
Trong khi hội họp hay huấn luyện cán bộ, họ thường hay xưng hô thân mật như: Anh, Chị, tôi v.v… nhưng riêng có một người được gọi bằng “Ông chủ” tức là ông Hội Chủ. Người đó là một người đàn bà lớn tuổi thường được anh em gọi là Bà Cả Cà, vì lúc nào dọn cơm cho anh em ăn, Bà đều dọn món cà muối xổi, hoặc cà nén, cà dầm tương, hoặc cà bung làm món ăn chính. Ngày trước, Bà có dạy học Lý Đông A khi ông còn nhỏ tuổi, anh em gọi bà bằng Chị, và Lý Đông A gọi Bà là Bà Giáo, bà này sau khi di cư vào Nam và mất trong Nam sau khi đã bị Cộng Sản Hà Nội bỏ tù 5 năm tại trại Lý Bá Sơ.
9- CÁC TIẾP XÚC NGOẠI GIAO
Từ mùa thu 1943 đến mùa thu 1945, ông đã tiếp xúc với nhiều nhà cách mạng như ông Nguyễn Tường Long tức Hoàng Đạo của Đại Việt Dân Chính Đảng, và trao một tập nhỏ viết tay mà Hoàng Đạo, sau khi xem xong, cho là một tài liệu bổ ích. Qua mùa hè 1945, ông đã đến thăm Trương Tử Anh, lãnh tụ Đại Việt Quốc Dân Đảng tại phố Hàng Khoai. Sau buổi gặp gỡ, Trương Tử Anh nói với anh em Đại Việt là Lý Đông A, một kỳ nhân, một người đặc biệt, xuất chúng hơn người.
Riêng Cụ Nguyễn Hải Thần, khi trở về Hà Nội, phần thì bị bọn CS dòm ngó, phần thì bị các anh em trong Cách Mệnh Đồng Minh Hội bao vây, Lý Đông A ít lui tới để khỏi lộ hành tung, và chỉ định 2 người đại diện làm liên lạc viên giữa Ông và cụ Nguyễn, và 2 người này được mời làm Cố Vấn. Cụ Nguyễn Hải Thần là người có rất nhiều uy tín với Tưởng Giới Thạch và các tướng lãnh như tướng Lư Hán và tướng Tiêu Văn mà muốn dùng mấy tướng nầy làm áp lực với chính phủ Hồ Chí Minh, nhưng có ngờ đâu các tướng này đã bị CS dùng vàng quyên được của dân chúng đút lót, nên bị CS mua đứt. Rồi CS đưa ra giải pháp liên hiệp mời Cụ Nguyễn Hải Thần làm phó Chủ tịch Nhà Nước để lừa bịp quốc tế và nhân dân trong nước. Khi cụ nhận lời mời của Hồ Chí Minh, Lý Đông A chấm dứt việc liên lạc, và rút 2 đại diện về, để cùng ông rời xa Hà Nội.
10- ĐỢT LẬP TRẠI HUẤN LUYỆN VÀ CHIẾN KHU
Sau khi cướp được chính quyền trong mùa thu 1945, CS tung hết cán bộ ra nắm quần chúng vì họ đang gặp khó khăn với 2 tổ chức chính trị lớn là Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội của Cụ Nguyễn Hải Thần và Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Tường Tam. Sau cuộc cách mạng tháng 8/1945, thanh niên trí thức miền Bắc lũ lượt kéo nhau đến chiến khu Yên Báy để dự các khóa huấn luyện của trường Lục Quân Yên Báy do các sĩ quan Nhật Bản hướng dẫn. Ông Lý Đông A, sau khi bàn luận với một số cán bộ cao cấp của Duy Dân, đã quyết định chọn ngọn đồi Nga My để làm trung tâm huấn luyện cán bộ. Đây là một loạt đồi nhỏ, cách nhau 500 thước, cổ thành kinh đô cũ của vua Đinh Tiên Hoàng ngày trước, gần ranh giới tỉnh Ninh Bình – Hà Nam, đi vào bằng một con đường độc đạo, sau lưng có con lạch nhỏ chảy về sông Đáy.
Ông không có ý định dùng các ngọn đồi này làm nơi huấn luyện quân sự cho cán bộ hay xây dựng chiến khu, nhưng mọi nơi, các địa phương gởi người đến để học tập chính trị, nhưng không khỏi bị chiến khu Quỳnh Lưu của Việt Minh ở Phủ Nho Quan gần đấy theo dõi, nên khóa đầu tiên mới khai trương, bọn CS quyết định triệt hạ, họ thừa lúc nước lụt tràn ngập ruộng nương tỉnh Ninh Bình, tấn công chiếm đồi Nga My. Việc tiến chiếm không gặp sự chống cự nào, chỉ có vài ba tiếng súng lục bắn xuống lẹt đẹt. Đồi bị tràn ngập, một số thanh niên bị bắt và sau xử bắn tại Đồng Giao, trên đường quốc lộ số 1 đi Thanh Hóa. Số còn lại, thoát được vòng vây trong đó có LÝ ĐÔNG A, nhưng ông chẳng đi đâu xa, lẩn quẩn gần đồi Xích thổ, để dò xét tin tức của anh em bị bắt. Ông đã làm một bài thơ về đồi NGA MY với những câu: Đồi NGA MY mối hận trĩu bề bề… Đồi NGA MY vàng thau đà thử thách… Đồi NGA MY làm trọn DUY DÂN thề!
Sau đó vài tháng, vào mùa xuân 1946, sau khi Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh ký thỏa ước cho Pháp đổ bộ Hải Phòng thay thế quân đội Tưởng Giới Thạch, Ông gởi cho cán bộ Duy Dân bài thơ Đà Giang như một mật hiệu báo chỗ ẩn náu tạm thời của Ông, ở xóm Chiên Đào, gần sông Đà, từ đấy nhìn xuống có thể thấy núi Ba Vì.
11- CHIẾN KHU HÒA BÌNH
Nhận mật hiệu của Ông, một số cán bộ Duy Dân lên núi Rút (Hòa Bình) mong gặp Ông để thụ huấn thêm. Gọi là chiến khu nhưng đó chỉ là một điểm tập trung để huấn luyện chính trị như đồi NGA MY lúc trước, nó khác với chiến khu Yên Báy, hay chiến khu Bắc Sơn của Việt Minh. Tới Hòa Bình, họ được biết Lý Đông A đã di chuyển đi nơi khác, phải trèo đèo lội suối đi tìm, và bị sốt rét ngã nước nặng phải trở về Hà Nội, và ghé lại nhà bà Cả Cà, để nghỉ ngơi và thông báo tin tức.
12- CUỘC VIẾNG THĂM NGẮN NGỦI
Đối với Bà Cả Cà, tình thương đối với Lý Đông A còn hơn tình thương con đẻ. Từ khi người học trò của Bà rời Hà Nội, Bà rất mong nhớ và chờ tin tức, song Bà bận lo săn sóc Cụ Nguyễn Hải Thần đang tá túc tại nhà bà và phải giúp đỡ cho Cụ cải trang trốn về Trung Quốc. Qua những cán bộ Duy Dân ghé qua thăm, Bà dò tin tức chiến khu Hòa Bình để tìm kiếm Lý Đông A, nhưng thật khó khăn vì con Người lãnh tụ ấy, hành tung rất bí mật. Nhưng sau mấy tháng kiếm tìm, bà CẢ có tin tức xác thực về nơi tạm trú của người học trò yêu, đồng thời là “Ông chủ” của Bà. Sau 3 ngày trèo đèo, lội suối, Bà đã tìm tới một căn nhà sàn nhỏ cheo leo trên núi. Theo chỗ bà kể lại, khi thấy người học trò cũ, bà suýt bật khóc, khi trông thấy anh LÝ gầy guộc, xanh xao, vẫn còn khuôn mặt thư sinh, đứng dậy chấp tay chào Bà rất lễ độ, rất nho phong. Sau vài ba câu chuyện hỏi thăm nhau, anh LÝ cho biết, trong 2 giờ nữa, anh sẽ di chuyển đến một chỗ khác. Trong cuộc đàm đạo, anh LÝ sau khi đã phân tích tình hình đât nước và quốc tế, và dự đoán các biến chuyển trong tương lai, anh Lý kết luận: “Những điều tôi vừa trình bày cùng Bà Cả, đó là những điều sát với thực tế, đó là cái nhìn theo biện chứng Duy Dân mà tôi đã nhìn thấy từ năm 1939 khi tôi ở trên núi Yên tử. Xin Bà Giáo nói với anh chi em đồng chí cứ nghiên cứu các tài liệu mà tôi đã viết sẽ thấy rõ, và xin Bà Giáo giúp tôi chuyển quyết định sau đây tới các chi bộ Duy Dân, nên phân tán mỏng, học tập kỹ càng tài liệu, lặng lẽ phổ biến tư tưởng Duy Dân tới các thế hệ kế tiếp. Cuối thế kỷ này, Dân tộc ta và nhân loại sẽ thức tỉnh sau khi các bạo quyền độc tài chuyên chế, thời cơ sẽ đến vào khoảng năm 2000.” Đó là lời dặn cuối cùng của nhà lãnh tụ Duy Dân.
13- CUỘC GẶP GỠ CUỐI CÙNG
Người tiết lộ cuộc viếng thăm của Bà Giáo tại chiến khu Hòa Bình cũng là một nữ chiến sĩ Duy Dân [cụ ĐT], đã kể lại, vào khoảng 4 năm sau, vào năm 1950 khoảng tháng 9, một hôm đang đi trên phố Hàng Bông Hà Nội được một Đồng Chí Duy Dân vẫy tay nói nhỏ: “Xin chị lên gác nhà tôi, có người muốn gặp”. Vừa buớc vào thì Bà sửng sốt vì gặp Lý Đông A, mặc quốc phục, quần trắng, áo thâm đen.

Cụ Đức Thụ mặc áo đậm ngồi giữa bốn người. Hà Thế Ruyệt, Phạm Thị Quang Ninh, bên phải ảnh, tại Washington DC, 1990.
(Hình tư liệu của ông Hà Thế Ruyệt)
Sau 15 phút tiếp xúc hàn huyên, hỏi thăm tin tức, họ LÝ cho biết sắp tới giờ di chuyển đi nơi khác, bà phải ngậm ngùi chia tay, và đó là lần gặp gỡ cuối cùng của lãnh tụ Lý Đông A… Và từ ấy đến nay, con Người kỳ bí ấy không còn xuất hiện nữa.
14- KẾT LUẬN
Nói tóm lại, lãnh tụ Lý Đông A sinh ra tại Việt Nam, tha thiết với Dân tộc Việt Nam cùng với sự tha thiết với Đạo làm người trong Nhân loại. Ông đã khai sáng nhiều văn minh tiềm ẩn trong Việt Đạo, cũng như khai quật các bước thăng trầm trong Việt sử, và tha thiết mai sau sẽ phục hoạt nền văn hiến Việt Nam, qua các đền thờ Quốc tổ từ trung ương đến địa phương.
Trong việc cai trị đất nước, Ông đã phác họa một bản đồ về cơ năng Hiến Pháp phân quyền giữa 5 cơ quan rõ rệt: Hành Pháp, Lập Pháp, Tư Pháp, Giám Sát và Giáo Dục.
Trong kinh tế, Ông chủ trương tự do tư hữu và tự do kinh tế.
Trong xã hội, ông chủ trương cá thể cùng tập thể sẽ hỗ tương trách nhiệm để cùng nhau tiến hóa và xây dựng thịnh vượng chung của Dân tộc.
Trong giáo dục, ông thể hiện đạo làm người trong chủ trương phát triển khoa học, xây dựng kinh tế để cung cấp nhu cầu cần thiết cho mọi người, giáo dưỡng Đạo làm cha mẹ, làm con, làm anh em, làm bằng hữu và người lãnh đạo đối với người Dân.
Ông đề nghị 6 nguyên tắc gọi là Lục Dân làm nguyên tắc chỉ đạo, để kiến thiết Quốc Gia và Dân tộc.
Người chiến sĩ chống Cộng trẻ tuổi nầy luôn luôn chủ trương 3 mục tiêu: Nhân Chủ, Nhân Bản, Hòa Bình và Hạnh Phúc, đã để lại một hệ thống tư tưởng Nhân chủ và Nhân Bản cho Dân tộc và Nhân loại làm sự nghiệp sườn cột cho chủ thuyết Duy Dân. Các chuỗi dài tư tưởng của chủ thuyết nầy nếu được áp dụng sẽ đem lại thực tế Nhân Chủ, Hòa Bình, và Hạnh phúc lâu dài cho Dân tộc Việt Nam, được hay không? Nhưng những điều mong ước ấy là chủ trương của lãnh tụ Lý Đông A. Từ năm 1950, không thấy lãnh tụ chính trị kiêm triết gia nầy xuất hiện trên chính trường VN nữa. Người thì nói ông ta đã bị CSVN thanh toán, song không thấy CS xác nhận có thủ tiêu vị lãnh tụ nầy, vì không có gì chứng liệu để lại. Có kẻ thì nói ông ta đang nhập tu ở một hang động trên triền núi Hy Mã Lạp Sơn như một tu sĩ YOGI (có người gặp). Dù sao có nhiều huyền thoại thêu dệt xung quanh con người kỳ bí nầy, và chúng ta cứ để các huyền thoại ấy trong mờ mờ ảo ảo, ai muốn tin thì cứ tin và chúng ta vẫn tôn trọng sự nghi ngờ có tính chất triết học (Philosophic doubt) nầy. Điều mà chúng ta cần giữ lại trong tư tưởng của chúng ta là trong lịch sử chính trị của VN có một lãnh tụ trẻ tuổi tài ba, đã hành động cứu nước, với một triết thuyết xây dựng quốc gia, hòa hợp những văn hóa Đông Tây, mà đến nay, chưa có một học thuyết chính trị nào bì kịp, đó là chủ nghĩa Duy Dân và vị tổ khai sáng nó là một thanh niên chưa đầy 28 tuổi tên: LÝ ĐÔNG A ./.
Tài liệu nghiên cứu của Lý Trường Trân
ký tên
————————————————
Ghi Chú của Thái Kinh Dương:
Vị nữ chiến sĩ Duy Dân mà Ông Lý Trường Trân đề cập tới ở trên, gặp Cụ Lý cuối cùng năm 1950 tại phố Hàng Bông là Bà Đức Thụ, ở Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, em Bà Đức Trạc, ở Nam California. Cả hai Bà tuy đã mất, nhưng là các vị mà các ông Vũ Hoàn, Trịnh Đình Thắng, Hà Thế Ruyệt, Nguyễn Thư Khoa tức Thái Thư, Trịnh Ngọc Bằng… nay tháng 09 năm 2020, vẫn còn sống, đều đã gặp. Chính Bà Đức Thụ, năm 1990 đã nói tại nhà Bà, với Thái Kinh Dương về sự gặp gỡ cụ Lý Đông A của Bà năm 1950 ở phố Hàng Bông Hà Nội đúng như sự kể lại ở trên của Ông Lý Trường Trân.
*****
Lời Kể Của Ông Đặng Đình Tất
Về Duy Dân Và Lý Đông A
Năm 1944, tôi được giới thiệu về Z (Duy Dân) qua một người bà con ở Chương Mỹ, cách Yên Thành, Yên Phúc ba cây số. Người này đã biết Duy Dân qua ông anh nhưng chưa hoạt động gì.
Tháng 2, 1946, tôi đang học Chu Văn An, lớp đệ Lục, Hà Nội rất lộn xộn. Đi xe điện đến Đông Dương Học xá thì thấy khẩu hiệu viết trên tường, đả đảo Việt Minh bắt thầy Nguyễn Gia Tường bất hợp pháp; rất nhiều khẩu hiệu trên tường vào học xá.
Cụ Nguyễn Gia Tường bị bắt vì tham gia phong trào Ngũ Xã, trung tâm phe quốc gia chống Việt Minh. Cụ Nguyễn Gia Tường cầm đầu cuộc biểu tình yêu cầu Hồ Chí Minh mời Bảo Đại ra trao trả quyền hành để thống nhất chuẩn bị chống Pháp. Chúng tôi đang học, cán bộ phe quốc gia đến yêu cầu bãi khóa, phản đối Việt Minh đàn áp phe quốc gia. Một sinh viên Hà Nội, Phan Thanh Hòa, chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên, đứng ra triệu tập thanh niên học sinh, sinh viên, đứng ra làm trung gian hòa giải giữa hai phe quốc gia và Việt Minh; có sự tập họp học sinh lại, có cán bộ quốc gia đến kêu gọi.
Tôi có người anh, Đặng Đình Khiến, theo Việt Minh; còn tôi tập trung đi học, nghe ở Quan Thánh có chống Việt Minh. Hồi ấy anh Trần Thanh Hiệp cũng tham gia bên Quan Thánh. Ngay lúc đó, tờ báo Cờ Đỏ chạy tít ngang trang đầu: phải tiêu diệt bọn Trotskit. Phe Quốc gia làm tờ Chiến Luận. Sau đó có lệnh di tản. Về quê, Việt Minh đến bắt ông anh khác của tôi theo Duy Dân. Gia đình tôi có gia thế trong vùng. Cả làng theo Công giáo toàn tòng, riêng gia đình tôi thì không. Ông anh này của tôi đã hoạt động Duy Dân, Chi bộ 002 [Cán sự bộ 002]. Tôi nhanh chóng thu thập tài liệu Duy Dân đem đi; thấy thế, nó bắt tôi đứng lại, nhưng tôi chạy thoát. Sau đó quay lại xem tình hình thế nào thì nó bắt tôi luôn, nghi tôi là Quốc Dân Đảng.
Lúc đó Việt Minh đang mở chiến dịch thanh toán tất cả những ai tình nghi chống cộng sản. Nhờ có người trong họ can thiệp nên tôi bị đưa ra tòa ở Hà Đông chứ không bị bắt mang đi thủ tiêu như nhiều người khác. Tôi bị án tù ba năm, anh tôi hai năm. Tháng 11, 1946 bị đưa lên Phú Thọ. Sau đó thấy nhiều người cũng bị đưa lên: Lê Ninh (Lê Khang), Nguyễn Tường Thụy (Tổng Giám đốc Bưu điện Việt Nam, anh của Nguyễn Tường Tam), Bạch Thái Tòng, Phan Thanh Hòa (bị thủ tiêu trước Tết, đầu 1947). Sau đó tôi bị đưa lên Yên Bái, gặp các anh em thuộc nhóm ở Ôn Như Hầu được đưa về từ Thanh Hóa. Trong đó còn có nhóm Lục quân Yên Bái (do Trương Cao Phong – người Nhật lấy tên Việt) tổ chức, đã chạy sang Tầu, lại nghe lời Việt Minh quay về, bị bắt. Trong số anh em Duy Dân có ông Nguyễn Hữu Lẫm (sau có tập thơ “Dưới Thời Binh Lửa”, lấy hiệu là Việt Sỹ). Có đoàn chính phủ đến thanh tra trại giam do ông Vũ Trọng Khánh, Bộ trưởng Tư Pháp, dẫn đầu. Ông Khánh cùng học luật với ông Nguyễn Hữu Lãm (còn gọi là Lẫm), nên ông Lẫm được tha về. Trong đợt này tôi nghe nói Việt Minh thủ tiêu trên dưới 500 người. Ông anh tôi chết vì bệnh. Tôi lại bị đưa về Phú Thọ. Một hôm trốn chạy thoát được. Đến 1948 tôi về lại Hà Nội. Tết 1949 về làng, sau đó ra lại Hà Nội.
Ông Hùng Giang, ông Chính Bằng (Phạm Văn Bằng) cùng giam ở Hà Nội với tôi trước đó, lúc đó đang ở Hà Nội. Cuối 1949 tôi gặp cụ Thái Nhân đang ở Hà Nội, do Chính Bằng liên lạc. Cụ Thái Nhân cho người bảo đến gặp, và bảo đến ở đó luôn đến 1950. Chính Bằng huấn luyện tôi về Duy Dân bảy ngày, mỗi ngày một tiếng.
Về cụ Lý: tôi ở gần cụ Đồ Mạnh (Phạm Văn Mạnh), được mọi người gọi là cụ
Đồ Bẩy, bậc cha chú của cụ Lý, đã tham gia nhiều cuộc kháng chiến chống Pháp, hướng dẫn Lý Đông A về phong thuỷ theo triết lý Đông phương. Ông Khang, ông Nguyễn Quang Doãn (còn viết là Dzoãn), cháu cụ Lý (gọi cụ là chú) cho biết có người Tầu nó nói xoay hướng mảnh đất. Có lần cụ Đồ Mạnh điểm long mạch, táng sống cụ Lý. Lúc Lý Đông A ở Tầu về, có nói với cụ Đồ Mạnh tìm chỗ cho cụ ẩn vì Việt Minh sẽ lên. Chỉ mình ông Tiết, con thứ hai của cụ Đồ Mạnh biết chỗ ở của Lý Đông A. Lý Đông A đặt tên cơ sở Duy Dân ở đồi Nga My là thí nghiệm giáo dục trường. Tôi có tham dự một số lớp huấn luyện ở đấy.
Còn nhớ có anh Đoàn Viết Biên ở Mai Lĩnh cũng theo học, rồi bị bắt ở Nga My. Văn Tiến Dũng cho quân đến vây, ông Lý Đông A lên nói chuyện, nói không có tham vọng lãnh đạo, ai làm được thì nhường.
Về chiến khu Hòa Bình: Cụ Thái Nhân kể trước cuộc chiến ở Hòa Bình, Lý Đông A họp các trưởng chi bộ, ông không muốn có trận đánh với cộng sản ở Hòa Bình. Ông Đức Kính trắng thuộc phe quân sự, nhất định đòi đánh, đứng ra kêu gọi lập đội quân chống cộng sản ở Hòa Bình. Lý Đông A nói nếu thất bại, đừng tìm ông nữa.
Khi tôi tù ở Hà Nội, có một anh ở Hòa Bình cùng giam, nói: tại trại giam Hòa Bình, tù nhân phá trại giam, có một số chết. Sau này tôi đọc báo của Vũ Ngọc Các (báo Dân Chủ), thấy bài của Mặc Đỗ kể lại truyện tù nhân Hòa Bình phá trại giam do Lý Đông A chỉ huy. Sáng ra thấy 17 xác chết, nhưng không thấy Lý Đông A (1).
Đặng Thị Dung (bà Giáo) là người gặp Lý Đông A lần cuối ở Hà Nội. Khi ở Hòa Bình, ông ở nhà ông Đinh Công Lâm; sau sợ lộ, sang ở nhà Đinh Công Phủ; lại sợ lộ, lại đưa đoàn Lý Đông A đi chỗ khác (2). Bà Dung kể lúc đó có tay nải rớt xuống đất bị ướt, tối phải hơ cho khô. Bà phải đi tránh Việt Minh, khi quay lại lấy tay nải thì đoàn của Lý Đông A đã ra đi rồi.
Đầu 1964, sau khi ông Diệm đổ, tôi lên gặp Đinh Công Lâm ở Dak Lak. Lâm kể là Đinh Công Thái, người trong họ, khi Pháp chiếm Hòa Bình có tham gia trong đoàn lính Mường. Bà cả Chính (có hai con trai theo Lý Đông A bị mất tích) (3), gả con gái cho Đinh Công Thái. Lý Đông A ở nhà Đinh Công Thái trước khi cùng cả đoàn ra đi mất dấu tích.
Ông Loan, anh ruột Lý Đông A có cuốn sách do Lý Đông A để lại. Cụ Thái Nhân không dám dịch sang tiếng Việt, trả lại cụ Loan. Cụ Nhân nói xem thì sợ lắm, chỉ bậc hiền thánh mới hiểu.

Hàng ngồi, từ trái: Cụ Ba Liệu (người thứ hai, Việt Quốc), ông Nguyễn Như Loan (anh ruột Lý Đông A), ông Nguyễn Văn Ngọ (Đại Việt) trong Ủy ban Vận động dựng đền thờ Quốc Tổ tại Sàigòn, năm 1970
(Hình tư liệu của ông Vũ Hoàn)
Trong số tham gia trận Hòa Bình có anh Lý Quốc Việt, anh con nhà bác của anh Dương Ngọc Dược. Tôi còn nhớ đến cụ Ký Đản theo phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu. Trong số xuất ngoại sang Hoa Nam cùng với Lý Đông A cũng có người theo cộng sản. Cụ Ký Đản tính xuất ngoại, nhưng sau thấy đến Hoa Nam thì mọi người giải tán hết nên buồn tự tử. Cụ Ký Đản kể năm 1945, ngày 20/8 giỗ Đức Thánh Trần. Năm đó bão lụt, nửa đường không về được, cụ ghé một ngôi chùa bàn sấm, thấy một anh tên Trản độ 12, 13 tuổi, nói cụ đọc sấm nhầm rồi. Anh ta nói cụ Trạng Trình tính sai mấy năm. Một hôm có hai ông sư hỏi anh Trản đâu rồi (anh Trản vào chùa ở tránh đói). Tuy 12, 13 nhưng anh đã biết hết nho, y, lý số. Có lần ngồi giáng bút, họ thử anh ta xem có biết giáng bút không. Giáng xong, hỏi thì anh ta nhớ lại và đọc vanh vách. Cụ Ký Đản hỏi về Lý Đông A, anh này nhận mình là sư đệ của Lý tiên sinh (sấm Mai Cao Sơn có nói đến việc này). Trong thơ Lý Đông A, bài Vạn Niên Thư có câu “Sáu năm cung kiếm tình nửa gối. Kẻ trước người sau đều đoạn trường”, chắc nói đến người sư đệ này chăng?
Người ghi: Nhiên Hòa Đoàn Viết Hoạt
Ghi chú: Ông Đặng Đình Tất kể qua Skype, ngày 03 tháng 6 năm 2016. Tiếc là chỉ ghi lại chứ không thâu âm.
————————————-
(1) Đêm 25-4-1947, thừa dịp đoàn cán bộ Huyện ủy các huyện Kỳ Sơn, Lạc Sơn ghé nghỉ chân tại trại giam, rồi Ban giám thị trại giam này tổ chức “liên hoan”. Anh em ta nhờ có ông Đinh Công Tuân liên lạc với chú là Lang đạo Đinh Công Nhân, đã đánh úp và giết sạch bọn chúng, giải thoát cho hơn 200 anh em đồng chí chạy vào rừng.
Sau Tỉnh ủy Việt Minh phải điều lực lượng vũ trang của tỉnh, bộ đội 3 huyện: Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lương Sơn; phối hợp với một tiểu đoàn chủ lực của Khu ủy tiến hành truy lùng. Khoảng một chục anh em miền xuôi bị bắt lại, đa số đồng chí Duy Dân đã tập trung lại ở khu vực huyện Lạc Sơn tiếp tục cuộc Duy Dân kháng chiến.
(2) Đoàn người theo Lý Đông A bị lộ sau khi ở nhà Đinh Công Phủ. Qua sự móc nối của Phan Lang, Đinh Công Phủ đã theo cộng sản từ lâu. Chính con trai cả của Phủ là Đinh Công Đốc cầm đầu đội lính tấn công đoàn quân Duy Dân ở Mường Diềm.
(3) Theo một nguồn tin khác thì chỉ con trai cả của bà Cả Chính đi theo Lý Đông A là ông Thái Khôi, không mất tích. Theo một nguồn tin khả tín (Thái Việt Duy Khang), sau 1975, ông này tới thăm mẹ ở Sài Gòn, cho biết Lý Đông A vẫn còn sống.
Cuốn Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh của Nguyễn Đăng Mạnh có đề cập đến bà Cả Chính (trang 129):
“Bà Cả Chính đã từng đưa Nguyễn Tất Thành qua Hải Phòng, Móng Cái, sang Trung Quốc gặp Lý Đông A ở Liễu Châu.
Hồi ấy, ở Việt Nam chưa có phong trào cộng sản.”
(Cập nhật ngày 18 tháng 10 năm 2020)
*****
LÝ ĐÔNG A
Chiến Sĩ Điển Hình Muôn Thuở Của Dân Tộc Đại Việt
Anh Hợp
Lý Đông A lên Hoà Bình với tâm trạng “Kinh Kha nhập Tần…” hoặc như Jésus vác thập tự trèo lên núi Sọ.
“Sao được tráng sĩ vài ngàn muôn
Cùng ta dong duổi khắp doanh hoàn
Lập lại non sông xưa Bách Việt
Dựng nên thế giới mới Duy Dân
Chèo sang một bến cực lạc
Vớt lấy năm bể trầm luân
Làm tròn giấc mộng tiền sinh ấy
Trở lại non sâu nhập niết bàn”.
(Trích Hứng Ngâm – Lý Đông A)
Lời tác giả: Bài này cũng như nhiều bài khác, (…) (1) đứng trên lập trường khảo cứu của nhà văn. Chữ (…) cốt để chỉ một nhân vật đã từng được tiếp xúc thân mật với Lý Đông A, tuy không ở đảng Duy Dân.
Vì muốn bài viết sống động, tác giả ghi chữ (…) thay tên thật.
Cuối mùa Xuân năm Bính Tuất (1946), Lý Đông A đi một mình về làng tôi, tôi cảm thấy hình như Lý có mang tâm sự gì u uất lắm, tuy anh vẫn cười nói như thường.
Chiều hôm ấy, giữa lúc chúng tôi đang ngồi bàn thiên hạ sự đột nhiên Lý nhìn rặng núi Tản Viên xa xa, chìm trong làn mây trắng thở dài, sau một hồi im lặng Lý hỏi tôi:
– Anh nghĩ thế nào nếu Hiệp ước sơ bộ 6-3 của Hồ Chí Minh ký với Sainteny?
Tôi cười:
– Nó chỉ là kế hoãn binh của cả hai bên để rồi lừa miếng hất nhau.
Chợt nhớ đến một “bí mật quân sự” tôi trổ ra để cược Lý:
– (…) Họ Hồ cùng bọn Võ Nguyên Giáp, Vũ Hồng Khanh đã cúi đầu ký kết cho quân Pháp vào Bắc Việt. đúng ngày 6-3, có lẽ cả tụi họ chẳng hiểu gì về ngày đó quan hệ cho quân đội viễn chinh như thế nào.
Lý cười hỏi tôi:
– Vậy thì anh thấy điều quan hệ ấy ra sao?
Được thể, tôi lên mặt nghiêm trọng:
– Anh biết không? Trừ ngày ấy, không bao giờ Pháp có thể đổ bộ trực tiếp lên cảng Hải Phòng.
Lý Đông A làm bộ ngạc nhiên:
– Ghê gớm thế cơ à? Tại sao vậy?
Tôi đắc chí, phách lối:
Làm chính trị mà không có sự hiểu biết thật sâu rộng thì nguy hiểm quá… Cả quốc gia, dân tộc bị thiệt hại, khốn khổ vì cái ngu tối của họ.
Tôi rút bút máy, vẽ phác hình thể duyên hải Bắc Kỳ rồi lên lớp:
– Cảng Hải Phòng đối với sự tiến bộ của khoa hàng hải hiện đại thì không dám mang danh Hải Cảng của “bao lơn” Đông Nam Á nữa. Bao nhiêu là bất tiện về địa hình địa vật. Riêng điểm này đã vứt đi rồi: mực nước của nó không đủ sâu để các thương hạm, chiến hạm hạng nặng cập bến, đặc biệt một điều là suốt cả năm trời chỉ có ngày 6-3 nước thuỷ triều dâng cao tột độ, những hải hạm nặng hàng chục ngàn tấn có thể vào được dễ dàng. Bước sang ngày 7 thì nước lại rút dần xuống mực thường. Nếu bọn Hồ đừng vội nhượng bộ, tụi Pháp phải vất vả tốn nhiều xương máu lắm mới đặt chân được lên giải đất xứ này.
Lý Đông A lục cặp rút ra một mảnh giấy mỏng như giấy cuốn thuốc lá, chữ viết nhỏ li ti: Dịch bản mật điện của Tướng Leclerc, Tổng Chỉ huy Quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương gửi Thiếu Tá Sainteny, Ủy viên Cộng Hòa Pháp Quốc tại Bắc Bộ.
“Tổng Tư lệnh lực lương Hải, Lục, Không quân của Pháp Quốc ở Thái Bình Dương, yêu cầu ông Ủy viên Sainteny hãy vì quyền lợi tối cao của nước Pháp mà ký kết cho xong thoả ước với chính phủ Hồ Chí Minh để quân Pháp vào Bắc Việt với bất cứ giá nào để thay thế quân đội trú phòng Trung Hoa.
Lý do: 6-3-1946 nếu quân Pháp không đặt chân lên đất Hải Phòng thì ít ra phải đúng 365 ngày nữa hạm đội Thái Bình Dương của Đại Pháp mới lại tiến vào cảng đó, nếu không muốn nói là không bao giờ. Ký tên…”
Thấy tôi có vẻ cụt hứng, Lý vỗ vai tôi, giải thích:
– Cái này là của một đồng chí Duy Dân nằm ngay trong địch. Tôi nghĩ có lẽ họ Hồ có biết điều đó. Nhưng họ không quan niệm về quốc gia, dân tộc như chúng mình đâu. Về quân sự, ý kiến chúng lại càng khác nữa. Chúng sẵn sàng phá hoại, tàn sát hết cả dân lẫn nước. Tàu hay Tây chiếm nước, chúng chẳng cần. Miễn sao bọn Đệ Tam của chúng được sống còn là đủ. Có trí nhớ như anh hẳn chưa quên vụ Nga Sô ký hiệp ước với Đức Quốc Xã.
– Ờ hờ! Bậy thật. Lúa mì, dầu hoả, quặng mỏ, bao nhiêu thứ cần thiết cho kỹ nghệ chiến tranh, Nga Sô đều cung cấp hơn cả con số mà Hitler đòi hỏi.
– Ấy thế đó mà đảng Cộng sản Pháp đã ca tụng mãi hiệp ước Staline-Hitler. Vì thế, khi Hitler xâm lăng Pháp, tụi Therez-Duclos đã phát động phong trào hợp tác với địch.
Tôi tiếp:
– Khi Đức tấn công Nga thì bọn chúng lại hô hào chống Pétain cùng phát xít.
– Nếu vậy anh còn lạ gì châm ngôn: “Phương tiện nào cũng tốt cả, miễn là hữu ích cho ta” của Lénine. Đã biết rõ bọn chúng như thế ta phải liệu cách đối phó.
Nói tới đây hai tay anh nắm chặt, mắt rực sáng như nảy lửa, miệng mím chặt, quai hàm như bạnh nở. Tuy chưa được gần Lý nhiều, tôi biết rõ đặc tính con người của anh lắm. Thường thường anh hiền hoà, mềm dịu, yêu thương tất cả mọi người, nhưng khi bàn đến đại sự anh lại tỏ ra rất cứng cỏi, sẵn sàng đổ máu, sẵn sàng hy sinh.
Để mặc anh ngồi mơ mộng, tôi lửng ra vườn, bỗng nhiên chị vú gọi tôi:
– Cậu lên cụ gọi hỏi.
Tôi vội chạy lên gác chỗ thầy u tôi ở.
U tôi hỏi:
– Nhà cậu đến chơi với mày tên gì, quê quán ở đâu?
– Dạ anh ấy tên Nguyễn Hữu Thanh, quê tại đất Yên Tập-Hà Nam, bố mẹ cũng làm ruộng như nhà ta.
U tôi vẫn thường dậy tôi về lý số, bà nhắc lại nguyên tắc của Ma Y Thần Tướng:
– Giao du kết bạn phải tìm những người như thế mới được.
Tóc đơn (?) thưa thớt mà dài,
Phương viên diện mạo là trai anh hùng.
Tôi im lặng ngẫm nghĩ về tướng Lý, u tôi tiếp:
– Tao vẫn ngồi gác bên này, trông qua cửa sổ sang sân nhà mày để xem bạn mày ra sao. Cậu này được lắm.
Đoạn u tôi ngâm tiếp:
Đi như nước chảy quan sang anh hùng…
…Ngồi như núi mọc vững bền.
U tôi trỏ tay xuống dưới sân nói:
– Tướng đi ấy là tướng Nguyễn Huệ. Cậu Thanh này được tướng đi đúng như thế!
– Tướng ngồi đó chỉ có vua Chu Văn Vương và Hạng Võ. Cậu Thanh này còn được cả tướng ngồi nữa.
Tôi đâm cãi bứa:
– Con đi còn nhanh hơn anh ấy nhiều.
Bà cụ phát cáu chửi luôn:
– Mẹ mày… uổng công bà dậy, cái đi nhanh của mày là tối kỵ!
“Đi như vó ngựa chạy rông…”
– Mày sống lâu được…
U tôi ngừng lại hỏi:
– Có biết gì không?
Tôi không đáp. U tôi giảng thêm:
– Cứ nhìn hình thù thấy rõ không thể sống lâu được mà lại ngu đần, nghèo đói nữa. Chỉ riêng tao mới biết, còn thì bao nhiêu thầy tướng đời nay lầm chết.
Mày được tướng nằm chữa được hết mọi cái xấu.
“Nằm như cung cuốn một bên nghiêng vào…”
Thầy tôi cắt đứt câu truyện tướng số:
– Thôi! Mày mời cậu Thanh lên tao bảo ngay cái này, cần lắm.
Khi gặp Lý Đông A, thầy tôi đưa anh một quyển sách chữ nho chép tay, đóng bìa cây và ân cần nói:
– Tôi trao tặng cậu! cuốn kỳ thư để mà hành đại sự. Đúng là quý vật đợi quý nhân. Nhà tôi có hai bộ sách (…) truyền lại. Một là tập Bạch Vân Sấm của Trạng Trình, hai là bộ An Nam đại địa của (…) (quan thái thú nhà Đường cầm quyền cai trị nước ta cách đây 11 thế kỷ). Chúng tôi vốn dòng họ Phạm, không hiểu duyên cớ nào mà lại có được “của lạ” ấy. Vì cả hai bộ sách đều thuộc vào loại “bí truyền” chứ nó không phải là những quyển sao lại của mọi người khác. Trong sách ấy cũng chỉ ghi là đời nọ truyền đời kia coi như (…) Nhưng nếu con cháu không đủ tài đức thì không dám truyền dạy bừa bãi, bởi dùng không đúng chỗ nó sẽ làm tan nát cả một thế hệ. Hồi Pháp khủng bố triệt hạ vùng Kiến An, Cổ Am không biết phải lũ chó săn khuyển nho mách bảo không mà chúng đặc biệt chú ý đến sách Sấm Trạng Trình. Chúng khám thấy nhà nào ghi chép một vài bài thôi là cũng đủ để chúng xích tay gia chủ đưa đi biệt tích. Ông tôi sợ quá đốt mất cả bộ Bạch Vân Sấm ký. Bấy giờ tôi đang làm thư ký cho hiệu cao của Tàu nên đem dấu diếm được bộ này.
Lý Đông A khiêm tốn nâng sách trả lại:
– Nếu thế chúng cháu đâu dám lạm nhận. Anh H (…) đây cũng là bậc thông minh hiếm có, xin cụ trao cho anh.
– Cậu đừng khách sáo. Nó không đủ chữ để đọc sách này. Ví thử nó hiểu nổi tôi cũng không dám giao. (…) nhà tôi chưa đủ phúc đức, vả lại tính nó nhẹ dạ, kiêu căng. Hơn nữa gia phả có viết rằng:
“Báu vật thuộc về tinh thần không giống như ngọc vàng, đừng ích kỷ giữ làm của riêng. Bao giờ gặp được người xứng đáng thì phải trao cho người ta”.
Lý Đông A mỉm cười:
– Làm sao đo được mức xứng đáng?
– Được lắm chứ, có điều nó không phải vật sờ sờ trước mắt ai cũng thấy được. Điều kiện cần thiết là người đó phải Đế chí Đế đức (mưu đồ đại sự, đánh Đông dẹp Bắc cốt vì thiên hạ nhân dân chứ không phải do tham vọng cá nhân. Trí, tài nếu không hơn ít ra cũng phải ngang với Cao Vương – tác giả).
Thầy u tôi ép mãi Lý Đông A mới nhận sách. Khi tôi rủ Lý cáo lui, bỗng thầy tôi gọi:
– Này cậu, tôi quên mất điều này, cậu nên tìm đọc bộ Thái Ất Thần Kinh nữa, chính cụ Trạng Trình nhờ bộ này mà tìm hiểu thiên cơ.
– Thưa cụ biết tìm đâu ra bây giờ?
– Cậu giao dịch nhiều trong giới sinh viên trí thức may ra có cơ tìm được. Tôi xin mách chỗ tìm: một danh gia họ Trần vùng Nam Định. Dòng họ này được ngôi đất lớn ăn bền nên đã nhiều đời họ xuất thân bằng khoa bảng. Vào thời Gia Long, họ Trần có một người được làm Chánh sứ sang Tàu. Vốn là bực túc nho nên ông ta được nhiều quan to của Thanh triều quý mến, họ tặng ông rất nhiều cổ thư, cổ vật để làm kỷ niệm. Trong số đó có một bức tranh do chính tay vị Trạng nguyên học giả, kiêm thi sĩ đã soạn ra Tam Tự Kinh vẽ và bộ Thái Ất Thần Kinh. Như tôi biết hình như sách ấy cũng để chờ minh chủ, vì mặc dù danh nho nhưng họ Trần cũng không ai đọc nổi.
Lý Đông A vui vẻ chắp tay:
– Đa tạ cụ đã mách bảo, cháu nhớ rồi.
Tôi hỏi dồn:
– Ai thế? Anh có quen họ à?
– Chỗ đi lại thân thiết mà. Người thừa kế chính của họ Trần lúc ấy là anh Đạm. Trần Đình Đạm đấy mà (anh Đạm hiện giờ viết báo trong này với bút hiệu Trần Thanh Đạm, những chuyện dịch Liêu Trai hoặc văn thi phẩm của Tàu cùng những bài bàn về khảo cổ v.v… vẫn thường đăng trên nhật báo Tiếng Vang và nhiều tạp chí khác, dưới bút hiệu Trần Thanh Đạm chính là Đạm mà Lý Đông A đang nói).
Xuống hết cầu thang, Lý bảo tôi:
– Mai nhất định đi Nam Định nhé.
– Tán thành. Tôi xin theo ông.
Đột nhiên nhớ đến mấy câu thơ của Lý Đông A, tôi chỉ tay vào quyển địa lý ngâm nga:
“Đại địa ngàn xưa không huyệt táng
Đan Thanh một điểm tự không thần”.
Tôi gọi người nhà thắp đèn, Lý gạt đi:
– Định làm gì?
– Để anh đọc sách.
Giọng Lý trở nên lạ lùng, khó hiểu:
– Tôi sẽ đọc. Nhưng chúng ta “sau đây rồi nữa chỉ là chiêm bao”.
Lý vào đề trước:
– Trở lại câu chuyện hồi nãy. Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản đã rước Pháp vào Bắc bộ để đi đến đâu?
Tôi cáu kỉnh:
– Cái lũ mang tâm trạng của triều đình Tự đức. Bọn chúng thỏa hiệp với địch để giữ vững quyền lợi riêng tư. Truyện “giả đò diệt Quắc” từ thời Xuân Thu Chiến Quốc vẫn cứ được lịch sử nhắc lại mãi. Ca dao của ta có nhắc lại bài học muôn đời của nhân loại:
“Một nhà hai chủ không hoà,
Hai vua một nước ắt là chẳng yên”.
Tụi Cộng Sản Đệ Tam và phản động Pháp phải cắn xé nhau để tranh miếng thịt VN.
– Cộng hay Pháp kẻ nào sẽ thắng?
– Tụi Việt Minh chỉ bịp bợm để nắm chính quyền. Chắc vài tuần lễ thì chúng nó tan rã, nếu bị Pháp tấn công. Hãy trông lại Nam bộ làm gương. Chúng – bè lũ Cộng Sản miền Bắc phỉnh phơ “Bảo vệ thành đồng Tổ Quốc”, rồi quyên tiền, quyên gạo, mộ lính đưa vào Nam chiến đấu ủng hộ đồng bào Nam bộ. Tiền gạo chúng sơi hết. Lính vào quá Trung đã vội quay về. Bao nhiêu chiến sĩ miền Nam bỏ mạng vì chờ đợi chúng tiếp viện.
– Đúng, chúng sẽ quật nhau, nhưng họ Hồ không thua đâu. Như ta đã thấy từ khi tác chiến Nam Bộ đến giờ, tại bất kỳ địa phương nào bọn VM cũng chỉ làm lấy tiếng. Khi cần phải chiến đấu chúng dụ Dân Quân, Tự Vệ ra làm bia đỡ đạn. Trừ khi gặp trường hợp bất đắc dĩ, có bao giờ chúng để lực lượng chính quy tham chiến.
Anh phải nhớ chúng thuộc một tổ chức quốc tế, rất dầy kinh nghiệm từ 50 năm nay, cả về quân sự lẫn chính trị. Đức Quốc Xã mạnh hơn Nga Sô cả 10 lần mà phải bại cũng vì mắc phải chiến thuật “Cá ngựa” của Nga Sô. Anh có biết chiến thuật đó thế nào không?
– Bọn họ tiêu thổ, rút lui chờ mùa đông lạnh giá chứ gì?
– Không đúng hẳn thế. Mấy điều vừa kể chỉ là phụ thêm. Điểm chính là kế hoạch của Tôn Võ Tử truyền lại. Tôn Tẫn đã đem dùng trong một cuộc thi ngựa. Hồi đó, Tôn Tẫn – cháu chắt dòng chính của Tôn Võ Tử – vẫn tựa nương tại dinh quan Tướng Quốc họ Điền. Thấy sắp đến ngày Tết mà Tướng Quốc buồn rời rợi, Tôn Tẫn bèn hỏi căn do. Điền Tướng Quốc phàn nàn rằng:
– Lệ nước Tề tôi, cứ mỗi đầu xuân thì có một cuộc đua ngựa để khuyến khích việc võ bị. Từ vua đến các quan đều phải đưa ngựa ra chạy thi và cá tới hàng ngàn vàng mỗi đợt. Người nào thua cuộc chẳng những mất tiền lại còn bị phạt uống ba chén rượu. Mấy năm nay, chuồng ngựa của vua kén được những giống tuyệt hay, nên kỳ đua nào [tôi] cũng bị thua. Mất tiền thì không đáng kể nhưng phải chịu cái nhục các bạn đồng liêu chê cười.
Tôn Tẫn cười, đáp:
– Tưởng gì. Việc đó tôi có thể giúp đỡ ngài thắng giải năm nay.
Tướng Quốc thở dài:
– Dẫu tiên sinh giỏi đến đâu cũng không sao chuyển tình thế được. Mai ngày đã tới ngày thi rồi, làm sao mà tìm mua kịp được.
– Không phải tìm chọn đâu hết. Cứ ngựa trong chuồng ngài cũng đủ sức thắng rồi.
Tôn Tẫn vạch ngay cách tính cho Tướng Quốc hay:
– Đợt đầu, Tướng Quốc cá 1.000 lạng vàng. Nhà vua đưa ngựa hạng nhất ra thì Tướng Quốc cho đem ngựa hạng ba ra đấu. Dĩ nhiên ngài thua. Đợt nhì, Tướng Quốc tỏ vẻ cay cú đánh cược 2.000 lạng. Dĩ nhiên vua nhận lời ngay. Ngài cho ngựa hạng hai đua với hạng hai của vua. Lại thua nữa. Đến đợt ba, ngài cá hẳn 6.000. Nhất định nhà vua vui lòng đánh cược. Lúc đó, ngài tung ngựa hạng nhất của mình ra. Thể nào đợt này ngựa nhất của ngài dầu dở đến đâu cũng thắng nổi con ngựa thứ bét của vua. Bù trừ qua lại, Tướng Quốc vẫn được của nhà vua ba ngàn.
Theo đúng kế đó, quả nhiên Tề Tướng Quốc đã thắng đua ngựa năm ấy. Vua Tề ngạc nhiên hỏi:
– Mọi năm, ngựa Tướng Quốc dở hơn ngựa ta nhiều, sao năm nay khá thế?
Tướng Quốc tâu thật:
– Đó là nhờ tôn Tẫn hiền sĩ đặt kế.
Nghe xong tự sự, vua Tề khen:
– Một phép tính mọn đã lợi hại như thế đủ tỏ vị này rất giỏi về mưu lược. Nếu làm tướng chỉ huy quân đội hẳn phải biến hóa thần diệu, đối phương không sao chống được. Đoạn, vua Tề rước Tôn Tẫn vào triều, tôn lên làm quân sư, nhờ đó mà Tề Quốc dựng nên bá nghiệp.
Lý Đông A tiếp:
Nga Sô đã áp dụng chiến lược ấy mà thắng Đức. Giờ đây nếu xảy ra xung đột Việt Pháp, chắc chắn họ sẽ chỉ tung Dân Quân Tự Vệ ra làm bia đỡ đạn và để địch tiêu hao dần dần. Trong khi đó, Vệ Quốc đoàn và Cảnh vệ sẽ được chấn chỉnh dần dần. Bọn này vừa học tập vừa bảo toàn lực lượng để giữ dân.
Nhớ kỹ điều này, phe cộng sản họ cần quân đội để làm áp lực với dân hơn là đánh giặc.
Nói tới đây Lý Đông A dục tôi đi ngủ. Gần suốt đêm anh lui cui bên ngọn đèn dầu để đọc tập địa lý Cao Biền dầy tới ngàn trang và dầy đặc những hình tượng trưng trời đất cùng các địa huyệt, mạch chìm, mạch nổi. Người như tôi trông vào mà cũng thấy hoa mắt chẳng hiểu đâu vào với đâu. Sáng sớm hôm sau, khi thầy u tôi cho mời anh sang uống trà, anh cầm theo tập địa lý và trịnh trọng trao trả thầy u tôi:
– Thưa các cụ chúng cháu kỳ này phải bôn tẩu nhiều, không chắc sau này còn được hân hạnh gặp cụ. Mang theo trong mình e thất lạc thì uổng mất. Thầy u tôi phàn nàn:
– Hoài của! Cậu không đọc biết trao ai xứng đáng bây giờ?
Lý Đông A cười:
– Vì đọc rồi, thuộc rồi nên cháu mới gửi lại các cụ để sau này người khác còn dùng được. Biết rồi mà còn cố giữ là tham lam, ích kỷ.
Cả thầy u tôi và tôi đều kinh ngạc hỏi kỹ lại:
– Tối qua anh đã đọc hết rồi ư?
Lý điềm nhiên đọc những câu văn Hán trong sách rồi dịch luôn ra tiếng Việt, trong khi thầy tôi mở từng đoạn kiểm lại. Xong xuôi Lý còn ra đứng cạnh cửa sổ, chỉ tay về phía sông núi trước mặt và giảng giải về những đường khí mạch của đất chạy ngầm, chạy nổi thế nào.
Thầy tôi lắc đầu:
– Quả thật thánh nhân giáng thế. Nhiều tay lý số giỏi vào cỡ bực thầy tôi mà nghiền ngẫm mãi cũng còn chưa hiểu gì. Nào ngờ cậu chỉ xem có một lượt đã thuộc lòng lại thấu hiểu rất sâu sắc.
Bàn giảng về sách địa lý xong, Lý Đông A trao tôi tập thơ và dặn dò:
– Cất kỹ đi. Sau này, không còn dịp gặp nhau nữa đâu.
– Sao lại nói gở vậy?
– Nhiệm vụ của tôi tạm gọi là viên mãn rồi. Tôi đã tới kỳ: “Trở lại non sâu nhập nát bàn” (2).
Tôi cười không đáp. Lý Đông A cũng cười, vui vẻ:
– Lúc này cậu vẫn còn mê lý thuyết đại đồng Duy Vật của Mác Xít nên cậu chưa hiểu nổi, nhưng tôi biết trước 20 năm nữa đến người thừa kế có nhiệm vụ “Thực hiện xã hội Duy Dân” thì anh mới hiểu những lời tôi nói ngày nay.
Vẫn vẻ tươi như thường, Lý tiếp:
– Tôi đi Hoà Bình (3) ngay ngày hôm nay. Anh em Duy Dân vùng Sơn Tây Hoà Bình nắm chính quyền nhiều chỗ. Cuộc võ trang khởi nghĩa sắp bùng nổ. Tôi không đồng ý vì họ đã nhìn vào cái lợi trước mắt. Dầu vậy tôi vẫn phải nhận lãnh trách nhiệm.
——————————–
Ghi chú: Câu chuyện của tác giả Anh Hợp được đăng trên báo Sóng Thần, xuất bản năm 1974 tại Nam Việt Nam.
(1) Những chỗ ba dấu chấm (…) đứng rời một mình là những nơi bị nhoè, không còn đọc được.
(2) Câu cuối trong bài thơ Hứng Ngâm của Lý Đông A.
(3) Mặc dù không đồng ý với đa số về cuộc khởi nghĩa ở Hoà Bình giữa đảng Duy Dân và cộng sản, nhưng vì là thiểu số nên ông Lý Đông A đành phải theo quyết định chung, vào Hoà Bình để chỉ huy trận đánh. Trận chiến thất bại, rất nhiều đảng viên Duy Dân hy sinh. CSVN cho rằng đã giết được ông Lý trong trận này nhưng nhiều người cho biết vẫn còn gặp ông từ 1946 tới 1950, trong một buôn Mường tại vùng biên giới Việt Lào.
*****
Vài Mẩu Chuyện Về Lý Đông A
(Theo Nhiên Hòa)
- Cụ thân sinh tôi là Thái Nhân, Cán sự trưởng Cán sự bộ 002. Cụ cho biết có duyên gặp được cụ Lý nhờ thường giúp đỡ những người yêu nước nên được một đồng chí Duy Dân giới thiệu cụ với Lý Đông A (LĐA) từ đầu năm 1940, trước khi cụ Lý đi Lạng Sơn tham gia Phục Quốc Quân. Cụ thân sinh tôi hơn cụ Lý 20 tuổi nên cụ Lý để hai người gọi nhau bằng “tiên sinh” cho tiện. Lúc đó cụ thân sinh tôi đang nghiên cứu y lý số và dịch học. Một hôm cụ Lý đưa cho cụ thân sinh tôi một lá số tử vi bảo xem thử. Ít hôm sau cụ Lý trở lại và cụ thân sinh tôi nói đại ý: “Đây có phải lá số của Tiên sinh không. Lá số quí quá, lạ quá, nhưng sao vất vả đọan trường thế. Mà cuối đời lại trở thành một đạo sĩ.” Cụ Lý cười bảo: “Coi thế cũng khá rồi đấy” nhưng không nói gì thêm nữa.
- Cụ thân sinh tôi cũng kể cho tôi nghe một số chuyện đáng chú ý về LĐA. Đầu năm 1945, LĐA đến nhà cụ thân sinh tôi ở làng quê, trải một tấm bản đồ ra, chỉ vào một địa điểm thuộc tỉnh Hòa Bình và nói: “Tây vừa bắt được một vài cán bộ cao cấp của CS tại vùng này”. Cụ thân sinh tôi mừng rỡ nói “Như vậy chắc chúng nó sẽ yếu lắm.” LĐA lắc đầu nói “Tiên sinh không biết đâu. Vận nó đang lên đấy.” Cu thân sinh tôi nhất định không chịu tin. Đến mùa hè năm đó (1945), cụ Lý lại đến và bảo cụ thân sinh tôi chuẩn bị hành trang đi với cụ Lý độ 2 tuần. Hai người đến nhà một người đồng chí tại Ninh Bình mượn 2 căn phòng. Cụ Lý vào phòng trong ngồi thiền, dặn cụ thân sinh tôi ở phòng ngoài không cho ai vào, giờ cơm nước thì cụ ra và hai người dùng cơm. Cụ Lý dự định tĩnh tâm trong vòng 2 tuần để chiêm nghiệm tình thế. Đến tuần thứ 2 thì cụ Lý nói với cụ thân sinh tôi là xong rồi, chuẩn bị về nhà. Trước khi chia tay, cụ Lý nói với cụ thân sinh tôi đại ý: mùa thu này Việt Minh sẽ lên, thời cơ của chúng ta chưa tới, chúng ta phải rút vào bí mật. Cụ cũng cho biết sẽ chính thức ra lệnh giải tán Tổng Đảng Bộ (TĐB) đảng Duy Dân, nhưng dặn cụ thân sinh tôi chưa được cho ai biết việc này.
- Sau khi Việt Minh lên, vào đầu năm 1946, cụ tôi ở nhà quê và tình hình hết sức căng thẳng. Một hôm có một đồng chí từ Hà Nội đi xe đạp về làng nói với cụ tôi phải ra ngay Hà Nội để gặp cụ Lý. Cụ thân sinh tôi nói với người liên lạc là cụ không thể đi được vì chắc chắn sẽ bị theo dõi và sẽ lộ ra chỗ ở của cụ Lý. Ngày hôm sau, người liên lạc trở về làng lấy ở trong xe đạp ra một cuộn giấy nhỏ, mở ra chưa bằng một bàn tay, chữ viết li ti. Đó là chỉ thị của cụ Lý chính thức giải tán TĐB và chỉ thị mọi nơi rút vào bí mật, tự động hoạt động theo đúng kế họach chung, không cần chờ lệnh của ai. Sau đó tình hình hết sức nguy kịch, cụ tôi phải di chuyển và ẩn trốn nhiều nơi trước khi ra được Hà Nội. Do đó chỉ thị kia đã không còn giữ lại được.
- Năm 1965, một đồng chí của cụ thân sinh tôi kể rằng từ 1946 đến 1950, ông này theo LĐA lên sống tại vùng biên giới Lào-Việt, đến 1950 thì được LĐA ra lệnh tất cả những người theo ông phải trở về Hà Nội, ông chỉ giữ lại một ít người cùng theo ông vượt qua biên giới sang đất Lào, và dặn chỉ được tiết lộ việc này từ sau năm 1965. Từ đó ông này không nghe tin tức gì nữa.
- Trong thời gian bị giam tại Chí Hòa (1979-1988), tôi ở tù chung với ông Cao Dao, nhà báo, chuyên viên tình báo. Ông này cho biết thời kỳ cụ LĐA còn mang tên là Nguyễn Hữu Thanh, thường đến đọc sách ở Thư Viện Quốc Gia tại Hà Nội. Buổi trưa, ông Thanh thuờng ra ngồi dưới gốc cây ngoài sân nói chuyện với một vài sinh viên, trí thức trẻ như Nghiêm Xuân Hồng, Lê Ngọc Chấn… về các cuốn sách ông ta đã đọc. Ngô Đình Nhu lúc đó đang là Thủ thư, thỉnh thoảng cũng tham gia các buổi nói chuyện này và tỏ ra khâm phục. Khi ông Nhu lập đảng và làm báo để vận động cho ông Ngô Đình Diệm, có nhờ Cao Dao đi tìm ông Nguyễn Hữu Thanh nhưng không được. Khi ông Ngô Đình Diệm chấp chánh và ông Nhu làm Cố vấn chính trị, ông Nhu lại nhờ Cao Dao đi tìm LĐA. Một lần Cao Dao qua Lào, có dịp gặp được một sĩ quan cấp Tướng người Việt Nam trong quân đội Hoàng Gia Lào. Người này là một cán bộ Duy Dân mà Cao Dao có quen biết khi còn ở Hà Nội. Cao Dao hỏi chuyện, được biết ông này theo LĐA sang Lào, và được LĐA dặn tham gia quân đội Lào. Cao Dao hỏi về LĐA thì ông ta nói không biết gì, hình như LĐA đã sang Miến Điện, và cho Cao Dao tên một người ở Miến, hy vọng có thể biết chỗ ở của LĐA. Một lần khác có dịp sang Rangoon, Cao Dao tìm đến người kia, lúc đó đang là chủ một tiệm sửa xe gắn máy. Người này chối, nói không biết gì, sau gặng hỏi mãi và nhắc đến người sĩ quan ở Lào, thì chỉ được ông này cho biết LĐA đã lên vùng núi phía Tây Bắc Miến Điện đã từ lâu và ông ta không biết thêm gì nữa.
- Năm 1987, Trần Thị Thức, khi đang bị CS giam tại trại giam Phan Đăng Lưu (khám Gia Định cũ) vì tội “liên lạc người nước ngoài và tham gia tổ chức vượt biên” thì được ông Lý Trường Trân, cựu Dân Biểu VNCH, cũng đang bị CS giam giữ trong biệt giam trước mặt phòng giam của Trần Thị Thức, cho biết là cụ LĐA còn sống.
- Năm 1993, Đoàn Viết Hoạt, sau khi bị kết án 20 năm tù giam, bị đưa lên trại lao động cải tạo Hàm Tân, gặp được ông Lý Trường Trân, hỏi về việc này. Ông Lý Trường Trân cho biết trước 1975, khi ông Vũ Văn Mẫu còn làm Ngoại trưởng VNCH, trong một lần công du Népal, được một người Việt ở đó cho xem một tấm hình chụp ba người đứng dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn. Người này chỉ vào một người trong tấm hình và nói đó là Lý Đông A, hiện đang tu trên núi Hy Mã Lạp Sơn đấy.
- Cụ thân sinh ra tôi đã mất từ năm 1986, nên cụ không được biết điều này. Biết đâu đây chẳng là sự thật như lá số tử vi cụ đã xem, mà cụ tin chắc là của LĐA.
(Nhiên Hòa soạn, 2010)
__________________________
Lá Số của LĐA theo Thái Nhân (Cụ Lang Nhân)
Trong quyển số tử vi gia đình, Cụ Lang Nhân có lưu lại lá số của cụ LĐA như sau:
“Kiểm nghiệm và xét lại môn Tứ trụ, thấy Tiên sinh mệnh (năm) Canh Thân này được cách Tài Sát cách. Dụng thần là Hoả – Tài thần, ngày sinh là Nhâm Dần, tháng là Mậu Tý mà giờ là Đinh Mùi. Mậu Thất sát hiện ra ở Nguyệt can, Đinh Hoả chính Tài hiện ra ở thời can (can của giờ) toạ Mùi trong có Đinh. Trong Dần có Bính Hoả và là Dần Mộc sinh Hoả, chỉ vì Nguyệt lệnh là Tý vượng Thuỷ, lại hội với Thân niên có Canh Kim, Thân – Tý (Thân) là Trường sinh của Thuỷ, (Tý) là Đế vượng của Thuỷ lại hội thành Thuỷ cục.
Do đó Thuỷ quá vượng, Mệnh quá cường kiện cho nên phải vào Nam phương Hoả vượng Thổ cường, Thân và Tài Sát đều khoẻ mới phát được.
__________________________________
Theo cụ Lang Nhân ghi thì ngày tháng năm sinh của Cụ LĐA là:
Âm lịch Dương lịch
Năm Canh Thân 1920
Tháng Mậu Tý (11) 12
Ngày Nhâm Dần (01) 10
Giờ Đinh Mùi 13:00 – 15:00
| Dương Lịch – Âm Lịch & Bát Tự | |||||
| Năm | Tháng | Ngày | Giờ | ||
| 1920 | 12 | 10 (Thứ Sáu) | 14:00 | (VN) | |
| Canh Thân Mộc |
Mậu Tý Hỏa (11 Đủ) |
Nhâm Dần Kim (Mồng 1) |
Đinh Mùi Thủy |
||
<===== Ký Trình – Thống Nhất Các Đảng Phái Quốc Gia
Hiệu triệu kháng chiến =====>

