Những câu chuyện về Lý Đông A

Lời Kể Của Ông Đặng Đình Tất

Về Duy Dân Và Lý Đông A

Năm 1944, tôi được giới thiệu về Z (Duy Dân) qua một người bà con ở Chương Mỹ, cách Yên Thành, Yên Phúc ba cây số. Người này đã biết Duy Dân qua ông anh nhưng chưa hoạt động gì.

Tháng 2, 1946, tôi đang học Chu Văn An, lớp đệ Lục, Hà Nội rất lộn xộn. Đi xe điện đến Đông Dương Học xá thì thấy khẩu hiệu viết trên tường, đả đảo Việt Minh bắt thầy Nguyễn Gia Tường bất hợp pháp; rất nhiều khẩu hiệu trên tường vào học xá.

Cụ Nguyễn Gia Tường bị bắt vì tham gia phong trào Ngũ Xã, trung tâm phe quốc gia chống Việt Minh. Cụ Nguyễn Gia Tường cầm đầu cuộc biểu tình yêu cầu Hồ Chí Minh mời Bảo Đại ra trao trả quyền hành để thống nhất chuẩn bị chống Pháp. Chúng tôi đang học, cán bộ phe quốc gia đến yêu cầu bãi khóa, phản đối Việt Minh đàn áp phe quốc gia. Một sinh viên Hà Nội, Phan Thanh Hòa, chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên, đứng ra triệu tập thanh niên học sinh, sinh viên, đứng ra làm trung gian hòa giải giữa hai phe quốc gia và Việt Minh; có sự tập họp học sinh lại, có cán bộ quốc gia đến kêu gọi.

Tôi có người anh, Đặng Đình Khiến, theo Việt Minh; còn tôi tập trung đi học, nghe ở Quan Thánh có chống Việt Minh. Hồi ấy anh Trần Thanh Hiệp cũng tham gia bên Quan Thánh. Ngay lúc đó, tờ báo Cờ Đỏ chạy tít ngang trang đầu: phải tiêu diệt bọn Trotskit. Phe Quốc gia làm tờ Chiến Luận. Sau đó có lệnh di tản. Về quê, Việt Minh đến bắt ông anh khác của tôi theo Duy Dân. Gia đình tôi có gia thế trong vùng. Cả làng theo Công giáo toàn tòng, riêng gia đình tôi thì không. Ông anh này của tôi đã hoạt động Duy Dân, Chi bộ 002 [Cán sự bộ 002]. Tôi nhanh chóng thu thập tài liệu Duy Dân đem đi; thấy thế, nó bắt tôi đứng lại, nhưng tôi chạy thoát. Sau đó quay lại xem tình hình thế nào thì nó bắt tôi luôn, nghi tôi là Quốc Dân Đảng.

Lúc đó Việt Minh đang mở chiến dịch thanh toán tất cả những ai tình nghi chống cộng sản. Nhờ có người trong họ can thiệp nên tôi bị đưa ra tòa ở Hà Đông chứ không bị bắt mang đi thủ tiêu như nhiều người khác. Tôi bị án tù ba năm, anh tôi hai năm. Tháng 11, 1946 bị đưa lên Phú Thọ. Sau đó thấy nhiều người cũng bị đưa lên: Lê Ninh (Lê Khang), Nguyễn Tường Thụy (Tổng Giám đốc Bưu điện Việt Nam, anh của Nguyễn Tường Tam), Bạch Thái Tòng, Phan Thanh Hòa (bị thủ tiêu trước Tết, đầu 1947). Sau đó tôi bị đưa lên Yên Bái, gặp các anh em thuộc nhóm ở Ôn Như Hầu được đưa về từ Thanh Hóa. Trong đó còn có nhóm Lục quân Yên Bái (do Trương Cao Phong – người Nhật lấy tên Việt) tổ chức, đã chạy sang Tầu, lại nghe lời Việt Minh quay về, bị bắt. Trong số anh em Duy Dân có ông Nguyễn Hữu Lẫm (sau có tập thơ “Dưới Thời Binh Lửa”, lấy hiệu là Việt Sỹ). Có đoàn chính phủ đến thanh tra trại giam do ông Vũ Trọng Khánh, Bộ trưởng Tư Pháp, dẫn đầu. Ông Khánh cùng học luật với ông Nguyễn Hữu Lãm (còn gọi là Lẫm), nên ông Lẫm được tha về. Trong đợt này tôi nghe nói Việt Minh thủ tiêu trên dưới 500 người. Ông anh tôi chết vì bệnh. Tôi lại bị đưa về Phú Thọ. Một hôm trốn chạy thoát được. Đến 1948 tôi về lại Hà Nội. Tết 1949 về làng, sau đó ra lại Hà Nội.

Ông Hùng Giang, ông Chính Bằng (Phạm Văn Bằng) cùng giam ở Hà Nội với tôi trước đó, lúc đó đang ở Hà Nội. Cuối 1949 tôi gặp cụ Thái Nhân đang ở Hà Nội, do Chính Bằng liên lạc. Cụ Thái Nhân cho người bảo đến gặp, và bảo đến ở đó luôn đến 1950. Chính Bằng huấn luyện tôi về Duy Dân bảy ngày, mỗi ngày một tiếng.

Về cụ Lý: tôi ở gần cụ Đồ Mạnh (Phạm Văn Mạnh), được mọi người gọi là cụ

Cụ Đồ Phạm Văn Mạnh (râu dài, chống gậy).
(Hình tư liệu của ông Vũ Hoàn).

Đồ Bẩy, bậc cha chú của cụ Lý, đã tham gia nhiều cuộc kháng chiến chống Pháp, hướng dẫn Lý Đông A về phong thuỷ theo triết lý Đông phương. Ông Khang, ông Nguyễn Quang Doãn (còn viết là Dzoãn), cháu cụ Lý (gọi cụ là chú) cho biết có người Tầu nó nói xoay hướng mảnh đất. Có lần cụ Đồ Mạnh điểm long mạch, táng sống cụ Lý. Lúc Lý Đông A ở Tầu về, có nói với cụ Đồ Mạnh tìm chỗ cho cụ ẩn vì Việt Minh sẽ lên. Chỉ mình ông Tiết, con thứ hai của cụ Đồ Mạnh biết chỗ ở của Lý Đông A. Lý Đông A đặt tên cơ sở Duy Dân ở đồi Nga My là thí nghiệm giáo dục trường. Tôi có tham dự một số lớp huấn luyện ở đấy.

Còn nhớ có anh Đoàn Viết Biên ở Mai Lĩnh cũng theo học, rồi bị bắt ở Nga My. Văn Tiến Dũng cho quân đến vây, ông Lý Đông A lên nói chuyện, nói không có tham vọng lãnh đạo, ai làm được thì nhường.

Về chiến khu Hòa Bình: Cụ Thái Nhân kể trước cuộc chiến ở Hòa Bình, Lý Đông A họp các trưởng chi bộ, ông không muốn có trận đánh với cộng sản ở Hòa Bình. Ông Đức Kính trắng thuộc phe quân sự, nhất định đòi đánh, đứng ra kêu gọi lập đội quân chống cộng sản ở Hòa Bình. Lý Đông A nói nếu thất bại, đừng tìm ông nữa.

Khi tôi tù ở Hà Nội, có một anh ở Hòa Bình cùng giam, nói: tại trại giam Hòa Bình, tù nhân phá trại giam, có một số chết. Sau này tôi đọc báo của Vũ Ngọc Các (báo Dân Chủ), thấy bài của Mặc Đỗ kể lại truyện tù nhân Hòa Bình phá trại giam do Lý Đông A chỉ huy. Sáng ra thấy 17 xác chết, nhưng không thấy Lý Đông A (1).

Đặng Thị Dung (bà Giáo) là người gặp Lý Đông A lần cuối ở Hà Nội. Khi ở Hòa Bình, ông ở nhà ông Đinh Công Lâm; sau sợ lộ, sang ở nhà Đinh Công Phủ; lại sợ lộ, lại đưa đoàn Lý Đông A đi chỗ khác (2). Bà Dung kể lúc đó có tay nải rớt xuống đất bị ướt, tối phải hơ cho khô. Bà phải đi tránh Việt Minh, khi quay lại lấy tay nải thì đoàn của Lý Đông A đã ra đi rồi.

Đầu 1964, sau khi ông Diệm đổ, tôi lên gặp Đinh Công Lâm ở Dak Lak. Lâm kể là Đinh Công Thái, người trong họ, khi Pháp chiếm Hòa Bình có tham gia trong đoàn lính Mường. Bà cả Chính (có hai con trai theo Lý Đông A bị mất tích) (3), gả con gái cho Đinh Công Thái. Lý Đông A ở nhà Đinh Công Thái trước khi cùng cả đoàn ra đi mất dấu tích.

Ông Loan, anh ruột Lý Đông A có cuốn sách do Lý Đông A để lại. Cụ Thái Nhân không dám dịch sang tiếng Việt, trả lại cụ Loan. Cụ Nhân nói xem thì sợ lắm, chỉ bậc hiền thánh mới hiểu.

Hàng ngồi, từ trái: Cụ Ba Liệu (người thứ hai), ông Nguyễn Như Loan (anh ruột Lý Đông A), ông Nguyễn Văn Ngọ (thuộc đảng Đại Việt) trong Ủy ban Vận động dựng đền thờ Quốc Tổ tại Sàigòn, năm 1970.
(Hình tư liệu của ông Vũ Hoàn).

Trong số tham gia trận Hòa Bình có anh Lý Quốc Việt, anh con nhà bác của anh Dương Ngọc Dược. Tôi còn nhớ đến cụ Ký Đản theo phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu. Trong số xuất ngoại sang Hoa Nam cùng với Lý Đông A cũng có người theo cộng sản. Cụ Ký Đản tính xuất ngoại, nhưng sau thấy đến Hoa Nam thì mọi người giải tán hết nên buồn tự tử. Cụ Ký Đản kể năm 1945, ngày 20/8 giỗ Đức Thánh Trần. Năm đó bão lụt, nửa đường không về được, cụ ghé một ngôi chùa bàn sấm, thấy một anh tên Trản độ 12, 13 tuổi, nói cụ đọc sấm nhầm rồi. Anh ta nói cụ Trạng Trình tính sai mấy năm. Một hôm có hai ông sư hỏi anh Trản đâu rồi (anh Trản vào chùa ở tránh đói). Tuy 12, 13 nhưng anh đã biết hết nho, y, lý số. Có lần ngồi giáng bút, họ thử anh ta xem có biết giáng bút không. Giáng xong, hỏi thì anh ta nhớ lại và đọc vanh vách. Cụ Ký Đản hỏi về Lý Đông A, anh này nhận mình là sư đệ của Lý tiên sinh (sấm Mai Cao Sơn có nói đến việc này). Trong thơ Lý Đông A, bài Vạn Niên Thư có câu “Sáu năm cung kiếm tình nửa gối. Kẻ trước người sau đều đoạn trường”, chắc nói đến người sư đệ này chăng?

Người ghi: Nhiên Hòa Đoàn Viết Hoạt

Ghi chú: Ông Đặng Đình Tất kể qua Skype, ngày 03 tháng 6 năm 2016. Tiếc là chỉ ghi lại chứ không thâu âm.

————————————-

(1) Đêm 25-4-1947, thừa dịp đoàn cán bộ Huyện ủy các huyện Kỳ Sơn, Lạc Sơn ghé nghỉ chân tại trại giam, rồi Ban giám thị trại giam này tổ chức “liên hoan”. Anh em ta nhờ có ông Đinh Công Tuân liên lạc với chú là Lang đạo Đinh Công Nhân, đã đánh úp và giết sạch bọn chúng, giải thoát cho hơn 200 anh em đồng chí chạy vào rừng.

Sau Tỉnh ủy Việt Minh phải điều lực lượng vũ trang của tỉnh, bộ đội 3 huyện: Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lương Sơn; phối hợp với một tiểu đoàn chủ lực của Khu ủy tiến hành truy lùng. Khoảng một chục anh em miền xuôi bị bắt lại, đa số đồng chí Duy Dân đã tập trung lại ở khu vực huyện Lạc Sơn tiếp tục cuộc Duy Dân kháng chiến.

(2) Đoàn người theo Lý Đông A bị lộ sau khi ở nhà Đinh Công Phủ. Qua sự móc nối của Phan Lang, Đinh Công Phủ đã theo cộng sản từ lâu. Chính con trai cả của Phủ là Đinh Công Đốc cầm đầu đội lính tấn công đoàn quân Duy Dân ở Mường Diềm.

(3) Theo một nguồn tin khác thì chỉ con trai cả của bà Cả Chính đi theo Lý Đông A là ông Thái Khôi, không mất tích. Theo một nguồn tin khả tín (Thái Việt Duy Khang), sau 1975, ông này tới thăm mẹ ở Sài Gòn, cho biết Lý Đông A vẫn còn sống.

Cuốn Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh của Nguyễn Đăng Mạnh có đề cập đến bà Cả Chính (trang 129):

“Bà Cả Chính đã từng đưa Nguyễn Tất Thành qua Hải Phòng, Móng Cái, sang Trung Quốc gặp Lý Đông A ở Liễu Châu.

Hồi ấy, ở Việt Nam chưa có phong trào cộng sản.”

(Cập nhật ngày 18 tháng 10 năm 2020)

*****

LÝ ĐÔNG A

Chiến Sĩ Điển Hình Muôn Thuở Của Dân Tộc Đại Việt

Anh Hợp

Lý Đông A lên Hoà Bình với tâm trạng “Kinh Kha nhập Tần…” hoặc như Jésus vác thập tự trèo lên núi Sọ.

“Sao được tráng sĩ vài ngàn muôn
Cùng ta dong duổi khắp doanh hoàn
Lập lại non sông xưa Bách Việt
Dựng nên thế giới mới Duy Dân
Chèo sang một bến cực lạc
Vớt lấy năm bể trầm luân
Làm tròn giấc mộng tiền sinh ấy
Trở lại non sâu nhập niết bàn”.

(Trích Hứng Ngâm – Lý Đông A)

Lời tác giảBài này cũng như nhiều bài khác, (…) (1) đứng trên lập trường khảo cứu của nhà văn. Chữ (…) cốt để chỉ một nhân vật đã từng được tiếp xúc thân mật với Lý Đông A, tuy không ở đảng Duy Dân.

Vì muốn bài viết sống động, tác giả ghi chữ (…) thay tên thật.

————————————————————————————————————————-

Cuối mùa Xuân năm Bính Tuất (1946), Lý Đông A đi một mình về làng tôi, tôi cảm thấy hình như Lý có mang tâm sự gì u uất lắm, tuy anh vẫn cười nói như thường.

Chiều hôm ấy, giữa lúc chúng tôi đang ngồi bàn thiên hạ sự đột nhiên Lý nhìn rặng núi Tản Viên xa xa, chìm trong làn mây trắng thở dài, sau một hồi im lặng Lý hỏi tôi:

–  Anh nghĩ thế nào nếu Hiệp ước sơ bộ 6-3 của Hồ Chí Minh ký với Sainteny?

Tôi cười:

–  Nó chỉ là kế hoãn binh của cả hai bên để rồi lừa miếng hất nhau.

Chợt nhớ đến một “bí mật quân sự” tôi trổ ra để cược Lý:

–  (…) Họ Hồ cùng bọn Võ Nguyên Giáp, Vũ Hồng Khanh đã cúi đầu ký kết cho quân Pháp vào Bắc Việt. đúng ngày 6-3, có lẽ cả tụi họ chẳng hiểu gì về ngày đó quan hệ cho quân đội viễn chinh như thế nào.

Lý cười hỏi tôi:

–  Vậy thì anh thấy điều quan hệ ấy ra sao?

Được thể, tôi lên mặt nghiêm trọng:

–  Anh biết không? Trừ ngày ấy, không bao giờ Pháp có thể đổ bộ trực tiếp lên cảng Hải Phòng.

Lý Đông A làm bộ ngạc nhiên:

–  Ghê gớm thế cơ à? Tại sao vậy?

Tôi đắc chí, phách lối:

Làm chính trị mà không có sự hiểu biết thật sâu rộng thì nguy hiểm quá… Cả quốc gia, dân tộc bị thiệt hại, khốn khổ vì cái ngu tối của họ.

Tôi rút bút máy, vẽ phác hình thể duyên hải Bắc Kỳ rồi lên lớp:

–  Cảng Hải Phòng đối với sự tiến bộ của khoa hàng hải hiện đại thì không dám mang danh Hải Cảng của “bao lơn” Đông Nam Á nữa. Bao nhiêu là bất tiện về địa hình địa vật. Riêng điểm này đã vứt đi rồi: mực nước của nó không đủ sâu để các thương hạm, chiến hạm hạng nặng cập bến, đặc biệt một điều là suốt cả năm trời chỉ có ngày 6-3 nước thuỷ triều dâng cao tột độ, những hải hạm nặng hàng chục ngàn tấn có thể vào được dễ dàng. Bước sang ngày 7 thì nước lại rút dần xuống mực thường. Nếu bọn Hồ đừng vội nhượng bộ, tụi Pháp phải vất vả tốn nhiều xương máu lắm mới đặt chân được lên giải đất xứ này.

Lý Đông A lục cặp rút ra một mảnh giấy mỏng như giấy cuốn thuốc lá, chữ viết nhỏ li ti: Dịch bản mật điện của Tướng Leclerc, Tổng Chỉ huy Quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương gửi Thiếu Tá Sainteny, Ủy viên Cộng Hòa Pháp Quốc tại Bắc Bộ.

“Tổng Tư lệnh lực lương Hải, Lục, Không quân của Pháp Quốc ở Thái Bình Dương, yêu cầu ông Ủy viên Sainteny hãy vì quyền lợi tối cao của nước Pháp mà ký kết cho xong thoả ước với chính phủ Hồ Chí Minh để quân Pháp vào Bắc Việt với bất cứ giá nào để thay thế quân đội trú phòng Trung Hoa.

Lý do: 6-3-1946 nếu quân Pháp không đặt chân lên đất Hải Phòng thì ít ra phải đúng 365 ngày nữa hạm đội Thái Bình Dương của Đại Pháp mới lại tiến vào cảng đó, nếu không muốn nói là không bao giờ. Ký tên…”

Thấy tôi có vẻ cụt hứng, Lý vỗ vai tôi, giải thích:

–  Cái này là của một đồng chí Duy Dân nằm ngay trong địch. Tôi nghĩ có lẽ họ Hồ có biết điều đó. Nhưng họ không quan niệm về quốc gia, dân tộc như chúng mình đâu. Về quân sự, ý kiến chúng lại càng khác nữa. Chúng sẵn sàng phá hoại, tàn sát hết cả dân lẫn nước. Tàu hay Tây chiếm nước, chúng chẳng cần. Miễn sao bọn Đệ Tam của chúng được sống còn là đủ. Có trí nhớ như anh hẳn chưa quên vụ Nga Sô ký hiệp ước với Đức Quốc Xã.

–  Ờ hờ! Bậy thật. Lúa mì, dầu hoả, quặng mỏ, bao nhiêu thứ cần thiết cho kỹ nghệ chiến tranh, Nga Sô đều cung cấp hơn cả con số mà Hitler đòi hỏi.

–  Ấy thế đó mà đảng Cộng sản Pháp đã ca tụng mãi hiệp ước Staline-Hitler. Vì thế, khi Hitler xâm lăng Pháp, tụi Therez-Duclos đã phát động phong trào hợp tác với địch.

Tôi tiếp:

–  Khi Đức tấn công Nga thì bọn chúng lại hô hào chống Pétain cùng phát xít.

–  Nếu vậy anh còn lạ gì châm ngôn: “Phương tiện nào cũng tốt cả, miễn là hữu ích cho ta” của Lénine. Đã biết rõ bọn chúng như thế ta phải liệu cách đối phó.

Nói tới đây hai tay anh nắm chặt, mắt rực sáng như nảy lửa, miệng mím chặt, quai hàm như bạnh nở. Tuy chưa được gần Lý nhiều, tôi biết rõ đặc tính con người của anh lắm. Thường thường anh hiền hoà, mềm dịu, yêu thương tất cả mọi người, nhưng khi bàn đến đại sự anh lại tỏ ra rất cứng cỏi, sẵn sàng đổ máu, sẵn sàng hy sinh.

Để mặc anh ngồi mơ mộng, tôi lửng ra vườn, bỗng nhiên chị vú gọi tôi:

–  Cậu lên cụ gọi hỏi.

Tôi vội chạy lên gác chỗ thầy u tôi ở.

U tôi hỏi:

–  Nhà cậu đến chơi với mày tên gì, quê quán ở đâu?

–  Dạ anh ấy tên Nguyễn Hữu Thanh, quê tại đất Yên Tập-Hà Nam, bố mẹ cũng làm ruộng như nhà ta.

U tôi vẫn thường dậy tôi về lý số, bà nhắc lại nguyên tắc của Ma Y Thần Tướng:

–  Giao du kết bạn phải tìm những người như thế mới được.

Tóc đơn (?) thưa thớt mà dài,

Phương viên diện mạo là trai anh hùng.

Tôi im lặng ngẫm nghĩ về tướng Lý, u tôi tiếp:

–  Tao vẫn ngồi gác bên này, trông qua cửa sổ sang sân nhà mày để xem bạn mày ra sao. Cậu này được lắm.

Đoạn u tôi ngâm tiếp:

Đi như nước chảy quan sang anh hùng…

…Ngồi như núi mọc vững bền.

U tôi trỏ tay xuống dưới sân nói:

–  Tướng đi ấy là tướng Nguyễn Huệ. Cậu Thanh này được tướng đi đúng như thế!

–  Tướng ngồi đó chỉ có vua Chu Văn Vương và Hạng Võ. Cậu Thanh này còn được cả tướng ngồi nữa.

Tôi đâm cãi bứa:

–  Con đi còn nhanh hơn anh ấy nhiều.

Bà cụ phát cáu chửi luôn:

–  Mẹ mày… uổng công bà dậy, cái đi nhanh của mày là tối kỵ!

“Đi như vó ngựa chạy rông…”

–  Mày sống lâu được…

U tôi ngừng lại hỏi:

–  Có biết gì không?

Tôi không đáp. U tôi giảng thêm:

–  Cứ nhìn hình thù thấy rõ không thể sống lâu được mà lại ngu đần, nghèo đói nữa. Chỉ riêng tao mới biết, còn thì bao nhiêu thầy tướng đời nay lầm chết.

Mày được tướng nằm chữa được hết mọi cái xấu.

“Nằm như cung cuốn một bên nghiêng vào…”

Thầy tôi cắt đứt câu truyện tướng số:

–  Thôi! Mày mời cậu Thanh lên tao bảo ngay cái này, cần lắm.

Khi gặp Lý Đông A, thầy tôi đưa anh một quyển sách chữ nho chép tay, đóng bìa cây và ân cần nói:

–  Tôi trao tặng cậu! cuốn kỳ thư để mà hành đại sự. Đúng là quý vật đợi quý nhân. Nhà tôi có hai bộ sách (…) truyền lại. Một là tập Bạch Vân Sấm của Trạng Trình, hai là bộ An Nam đại địa của (…) (quan thái thú nhà Đường cầm quyền cai trị nước ta cách đây 11 thế kỷ). Chúng tôi vốn dòng họ Phạm, không hiểu duyên cớ nào mà lại có được “của lạ” ấy. Vì cả hai bộ sách đều thuộc vào loại “bí truyền” chứ nó không phải là những quyển sao lại của mọi người khác. Trong sách ấy cũng chỉ ghi là đời nọ truyền đời kia coi như (…) Nhưng nếu con cháu không đủ tài đức thì không dám truyền dạy bừa bãi, bởi dùng không đúng chỗ nó sẽ làm tan nát cả một thế hệ. Hồi Pháp khủng bố triệt hạ vùng Kiến An, Cổ Am không biết phải lũ chó săn khuyển nho mách bảo không mà chúng đặc biệt chú ý đến sách Sấm Trạng Trình. Chúng khám thấy nhà nào ghi chép một vài bài thôi là cũng đủ để chúng xích tay gia chủ đưa đi biệt tích. Ông tôi sợ quá đốt mất cả bộ Bạch Vân Sấm ký. Bấy giờ tôi đang làm thư ký cho hiệu cao của Tàu nên đem dấu diếm được bộ này.

Lý Đông A khiêm tốn nâng sách trả lại:

–  Nếu thế chúng cháu đâu dám lạm nhận. Anh H (…) đây cũng là bậc thông minh hiếm có, xin cụ trao cho anh.

–  Cậu đừng khách sáo. Nó không đủ chữ để đọc sách này. Ví thử nó hiểu nổi tôi cũng không dám giao. (…) nhà tôi chưa đủ phúc đức, vả lại tính nó nhẹ dạ, kiêu căng. Hơn nữa gia phả có viết rằng:

“Báu vật thuộc về tinh thần không giống như ngọc vàng, đừng ích kỷ giữ làm của riêng. Bao giờ gặp được người xứng đáng thì phải trao cho người ta”.

Lý Đông A mỉm cười:

–  Làm sao đo được mức xứng đáng?

–  Được lắm chứ, có điều nó không phải vật sờ sờ trước mắt ai cũng thấy được. Điều kiện cần thiết là người đó phải Đế chí Đế đức (mưu đồ đại sự, đánh Đông dẹp Bắc cốt vì thiên hạ nhân dân chứ không phải do tham vọng cá nhân. Trí, tài nếu không hơn ít ra cũng phải ngang với Cao Vương – tác giả).

Thầy u tôi ép mãi Lý Đông A mới nhận sách. Khi tôi rủ Lý cáo lui, bỗng thầy tôi gọi:

–  Này cậu, tôi quên mất điều này, cậu nên tìm đọc bộ Thái Ất Thần Kinh nữa, chính cụ Trạng Trình nhờ bộ này mà tìm hiểu thiên cơ.

–  Thưa cụ biết tìm đâu ra bây giờ?

–  Cậu giao dịch nhiều trong giới sinh viên trí thức may ra có cơ tìm được. Tôi xin mách chỗ tìm: một danh gia họ Trần vùng Nam Định. Dòng họ này được ngôi đất lớn ăn bền nên đã nhiều đời họ xuất thân bằng khoa bảng. Vào thời Gia Long, họ Trần có một người được làm Chánh sứ sang Tàu. Vốn là bực túc nho nên ông ta được nhiều quan to của Thanh triều quý mến, họ tặng ông rất nhiều cổ thư, cổ vật để làm kỷ niệm. Trong số đó có một bức tranh do chính tay vị Trạng nguyên học giả, kiêm thi sĩ đã soạn ra Tam Tự Kinh vẽ và bộ Thái Ất Thần Kinh. Như tôi biết hình như sách ấy cũng để chờ minh chủ, vì mặc dù danh nho nhưng họ Trần cũng không ai đọc nổi.

Lý Đông A vui vẻ chắp tay:

–  Đa tạ cụ đã mách bảo, cháu nhớ rồi.

Tôi hỏi dồn:

–  Ai thế? Anh có quen họ à?

–  Chỗ đi lại thân thiết mà. Người thừa kế chính của họ Trần lúc ấy là anh Đạm. Trần Đình Đạm đấy mà (anh Đạm hiện giờ viết báo trong này với bút hiệu Trần Thanh Đạm, những chuyện dịch Liêu Trai hoặc văn thi phẩm của Tàu cùng những bài bàn về khảo cổ v.v… vẫn thường đăng trên nhật báo Tiếng Vang và nhiều tạp chí khác, dưới bút hiệu Trần Thanh Đạm chính là Đạm mà Lý Đông A đang nói).

Xuống hết cầu thang, Lý bảo tôi:

–  Mai nhất định đi Nam Định nhé.

–  Tán thành. Tôi xin theo ông.

Đột nhiên nhớ đến mấy câu thơ của Lý Đông A, tôi chỉ tay vào quyển địa lý ngâm nga:

“Đại địa ngàn xưa không huyệt táng

Đan Thanh một điểm tự không thần”.

Tôi gọi người nhà thắp đèn, Lý gạt đi:

–  Định làm gì?

–  Để anh đọc sách.

Giọng Lý trở nên lạ lùng, khó hiểu:

–  Tôi sẽ đọc. Nhưng chúng ta “sau đây rồi nữa chỉ là chiêm bao”.

Lý vào đề trước:

–  Trở lại câu chuyện hồi nãy. Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản đã rước Pháp vào Bắc bộ để đi đến đâu?

Tôi cáu kỉnh:

–  Cái lũ mang tâm trạng của triều đình Tự đức. Bọn chúng thỏa hiệp với địch để giữ vững quyền lợi riêng tư. Truyện “giả đò diệt Quắc” từ thời Xuân Thu Chiến Quốc vẫn cứ được lịch sử nhắc lại mãi. Ca dao của ta có nhắc lại bài học muôn đời của nhân loại:

“Một nhà hai chủ không hoà,

Hai vua một nước ắt là chẳng yên”.

Tụi Cộng Sản Đệ Tam và phản động Pháp phải cắn xé nhau để tranh miếng thịt VN.

–  Cộng hay Pháp kẻ nào sẽ thắng?

–  Tụi Việt Minh chỉ bịp bợm để nắm chính quyền. Chắc vài tuần lễ thì chúng nó tan rã, nếu bị Pháp tấn công. Hãy trông lại Nam bộ làm gương. Chúng – bè lũ Cộng Sản miền Bắc phỉnh phơ “Bảo vệ thành đồng Tổ Quốc”, rồi quyên tiền, quyên gạo, mộ lính đưa vào Nam chiến đấu ủng hộ đồng bào Nam bộ. Tiền gạo chúng sơi hết. Lính vào quá Trung đã vội quay về. Bao nhiêu chiến sĩ miền Nam bỏ mạng vì chờ đợi chúng tiếp viện.

–  Đúng, chúng sẽ quật nhau, nhưng họ Hồ không thua đâu. Như ta đã thấy từ khi tác chiến Nam Bộ đến giờ, tại bất kỳ địa phương nào bọn VM cũng chỉ làm lấy tiếng. Khi cần phải chiến đấu chúng dụ Dân Quân, Tự Vệ ra làm bia đỡ đạn. Trừ khi gặp trường hợp bất đắc dĩ, có bao giờ chúng để lực lượng chính quy tham chiến.

Anh phải nhớ chúng thuộc một tổ chức quốc tế, rất dầy kinh nghiệm từ 50 năm nay, cả về quân sự lẫn chính trị. Đức Quốc Xã mạnh hơn Nga Sô cả 10 lần mà phải bại cũng vì mắc phải chiến thuật “Cá ngựa” của Nga Sô. Anh có biết chiến thuật đó thế nào không?

–  Bọn họ tiêu thổ, rút lui chờ mùa đông lạnh giá chứ gì?

–  Không đúng hẳn thế. Mấy điều vừa kể chỉ là phụ thêm. Điểm chính là kế hoạch của Tôn Võ Tử truyền lại. Tôn Tẫn đã đem dùng trong một cuộc thi ngựa. Hồi đó, Tôn Tẫn – cháu chắt dòng chính của Tôn Võ Tử – vẫn tựa nương tại dinh quan Tướng Quốc họ Điền. Thấy sắp đến ngày Tết mà Tướng Quốc buồn rời rợi, Tôn Tẫn bèn hỏi căn do. Điền Tướng Quốc phàn nàn rằng:

–  Lệ nước Tề tôi, cứ mỗi đầu xuân thì có một cuộc đua ngựa để khuyến khích việc võ bị. Từ vua đến các quan đều phải đưa ngựa ra chạy thi và cá tới hàng ngàn vàng mỗi đợt. Người nào thua cuộc chẳng những mất tiền lại còn bị phạt uống ba chén rượu. Mấy năm nay, chuồng ngựa của vua kén được những giống tuyệt hay, nên kỳ đua nào [tôi] cũng bị thua. Mất tiền thì không đáng kể nhưng phải chịu cái nhục các bạn đồng liêu chê cười.

Tôn Tẫn cười, đáp:

–  Tưởng gì. Việc đó tôi có thể giúp đỡ ngài thắng giải năm nay.

Tướng Quốc thở dài:

–  Dẫu tiên sinh giỏi đến đâu cũng không sao chuyển tình thế được. Mai ngày đã tới ngày thi rồi, làm sao mà tìm mua kịp được.

–  Không phải tìm chọn đâu hết. Cứ ngựa trong chuồng ngài cũng đủ sức thắng rồi.

Tôn Tẫn vạch ngay cách tính cho Tướng Quốc hay:

–  Đợt đầu, Tướng Quốc cá 1.000 lạng vàng. Nhà vua đưa ngựa hạng nhất ra thì Tướng Quốc cho đem ngựa hạng ba ra đấu. Dĩ nhiên ngài thua. Đợt nhì, Tướng Quốc tỏ vẻ cay cú đánh cược 2.000 lạng. Dĩ nhiên vua nhận lời ngay. Ngài cho ngựa hạng hai đua với hạng hai của vua. Lại thua nữa. Đến đợt ba, ngài cá hẳn 6.000. Nhất định nhà vua vui lòng đánh cược. Lúc đó, ngài tung ngựa hạng nhất của mình ra. Thể nào đợt này ngựa nhất của ngài dầu dở đến đâu cũng thắng nổi con ngựa thứ bét của vua. Bù trừ qua lại, Tướng Quốc vẫn được của nhà vua ba ngàn.

Theo đúng kế đó, quả nhiên Tề Tướng Quốc đã thắng đua ngựa năm ấy. Vua Tề ngạc nhiên hỏi:

–  Mọi năm, ngựa Tướng Quốc dở hơn ngựa ta nhiều, sao năm nay khá thế?

Tướng Quốc tâu thật:

–  Đó là nhờ tôn Tẫn hiền sĩ đặt kế.

Nghe xong tự sự, vua Tề khen:

–  Một phép tính mọn đã lợi hại như thế đủ tỏ vị này rất giỏi về mưu lược. Nếu làm tướng chỉ huy quân đội hẳn phải biến hóa thần diệu, đối phương không sao chống được. Đoạn, vua Tề rước Tôn Tẫn vào triều, tôn lên làm quân sư, nhờ đó mà Tề Quốc dựng nên bá nghiệp.

Lý Đông A tiếp:

Nga Sô đã áp dụng chiến lược ấy mà thắng Đức. Giờ đây nếu xảy ra xung đột Việt Pháp, chắc chắn họ sẽ chỉ tung Dân Quân Tự Vệ ra làm bia đỡ đạn và để địch tiêu hao dần dần. Trong khi đó, Vệ Quốc đoàn và Cảnh vệ sẽ được chấn chỉnh dần dần. Bọn này vừa học tập vừa bảo toàn lực lượng để giữ dân.

Nhớ kỹ điều này, phe cộng sản họ cần quân đội để làm áp lực với dân hơn là đánh giặc.

Nói tới đây Lý Đông A dục tôi đi ngủ. Gần suốt đêm anh lui cui bên ngọn đèn dầu để đọc tập địa lý Cao Biền dầy tới ngàn trang và dầy đặc những hình tượng trưng trời đất cùng các địa huyệt, mạch chìm, mạch nổi. Người như tôi trông vào mà cũng thấy hoa mắt chẳng hiểu đâu vào với đâu. Sáng sớm hôm sau, khi thầy u tôi cho mời anh sang uống trà, anh cầm theo tập địa lý và trịnh trọng trao trả thầy u tôi:

–  Thưa các cụ chúng cháu kỳ này phải bôn tẩu nhiều, không chắc sau này còn được hân hạnh gặp cụ. Mang theo trong mình e thất lạc thì uổng mất. Thầy u tôi phàn nàn:

–  Hoài của! Cậu không đọc biết trao ai xứng đáng bây giờ?

Lý Đông A cười:

–  Vì đọc rồi, thuộc rồi nên cháu mới gửi lại các cụ để sau này người khác còn dùng được. Biết rồi mà còn cố giữ là tham lam, ích kỷ.

Cả thầy u tôi và tôi đều kinh ngạc hỏi kỹ lại:

–  Tối qua anh đã đọc hết rồi ư?

Lý điềm nhiên đọc những câu văn Hán trong sách rồi dịch luôn ra tiếng Việt, trong khi thầy tôi mở từng đoạn kiểm lại. Xong xuôi Lý còn ra đứng cạnh cửa sổ, chỉ tay về phía sông núi trước mặt và giảng giải về những đường khí mạch của đất chạy ngầm, chạy nổi thế nào.

Thầy tôi lắc đầu:

–  Quả thật thánh nhân giáng thế. Nhiều tay lý số giỏi vào cỡ bực thầy tôi mà nghiền ngẫm mãi cũng còn chưa hiểu gì. Nào ngờ cậu chỉ xem có một lượt đã thuộc lòng lại thấu hiểu rất sâu sắc.

Bàn giảng về sách địa lý xong, Lý Đông A trao tôi tập thơ và dặn dò:

–  Cất kỹ đi. Sau này, không còn dịp gặp nhau nữa đâu.

–  Sao lại nói gở vậy?

–  Nhiệm vụ của tôi tạm gọi là viên mãn rồi. Tôi đã tới kỳ: “Trở lại non sâu nhập nát bàn” (2).

Tôi cười không đáp. Lý Đông A cũng cười, vui vẻ:

–  Lúc này cậu vẫn còn mê lý thuyết đại đồng Duy Vật của Mác Xít nên cậu chưa hiểu nổi, nhưng tôi biết trước 20 năm nữa đến người thừa kế có nhiệm vụ “Thực hiện xã hội Duy Dân” thì anh mới hiểu những lời tôi nói ngày nay.

Vẫn vẻ tươi như thường, Lý tiếp:

–  Tôi đi Hoà Bình (3) ngay ngày hôm nay. Anh em Duy Dân vùng Sơn Tây Hoà Bình nắm chính quyền nhiều chỗ. Cuộc võ trang khởi nghĩa sắp bùng nổ. Tôi không đồng ý vì họ đã nhìn vào cái lợi trước mắt. Dầu vậy tôi vẫn phải nhận lãnh trách nhiệm.

——————————–

Ghi chú: Câu chuyện của tác giả Anh Hợp được đăng trên báo Sóng Thần, xuất bản năm 1974 tại Nam Việt Nam.

(1)        Những chỗ ba dấu chấm (…) đứng rời một mình là những nơi bị nhoè, không còn đọc được.

(2)        Câu cuối trong bài thơ Hứng Ngâm của Lý Đông A.

(3)        Mặc dù không đồng ý với đa số về cuộc khởi nghĩa ở Hoà Bình giữa đảng Duy Dân và cộng sản, nhưng vì là thiểu số nên ông Lý Đông A đành phải theo quyết định chung, vào Hoà Bình để chỉ huy trận đánh. Trận chiến thất bại, rất nhiều đảng viên Duy Dân hy sinh. CSVN cho rằng đã giết được ông Lý trong trận này nhưng nhiều người cho biết vẫn còn gặp ông từ 1946 tới 1950, trong một buôn Mường tại vùng biên giới Việt Lào.

*****

Vài Mẩu Chuyện Về Lý Đông A

(Theo Nhiên Hòa)

  • Cụ thân sinh tôi là Thái Nhân, Cán sự trưởng Cán sự bộ 002. Cụ cho biết có duyên gặp được cụ Lý nhờ thường giúp đỡ những người yêu nước nên được một đồng chí Duy Dân giới thiệu cụ với Lý Đông A (LĐA) từ đầu năm 1940, trước khi cụ Lý đi Lạng Sơn tham gia Phục Quốc Quân. Cụ thân sinh tôi hơn cụ Lý 20 tuổi nên cụ Lý để hai người gọi nhau bằng “tiên sinh” cho tiện. Lúc đó cụ thân sinh tôi đang nghiên cứu y lý số và dịch học. Một hôm cụ Lý đưa cho cụ thân sinh tôi một lá số tử vi bảo xem thử. Ít hôm sau cụ Lý trở lại và cụ thân sinh tôi nói đại ý: “Đây có phải lá số của Tiên sinh không. Lá số quí quá, lạ quá, nhưng sao vất vả đọan trường thế. Mà cuối đời lại trở thành một đạo sĩ.” Cụ Lý cười bảo: “Coi thế cũng khá rồi đấy” nhưng không nói gì thêm nữa.
  • Cụ thân sinh tôi cũng kể cho tôi nghe một số chuyện đáng chú ý về LĐA. Đầu năm 1945, LĐA đến nhà cụ thân sinh tôi ở làng quê, trải một tấm bản đồ ra, chỉ vào một địa điểm thuộc tỉnh Hòa Bình và nói: “Tây vừa bắt được một vài cán bộ cao cấp của CS tại vùng này”. Cụ thân sinh tôi mừng rỡ nói “Như vậy chắc chúng nó sẽ yếu lắm.” LĐA lắc đầu nói “Tiên sinh không biết đâu. Vận nó đang lên đấy.” Cu thân sinh tôi nhất định không chịu tin. Đến mùa hè năm đó (1945), cụ Lý lại đến và bảo cụ thân sinh tôi chuẩn bị hành trang đi với cụ Lý độ 2 tuần. Hai người đến nhà một người đồng chí tại Ninh Bình mượn 2 căn phòng. Cụ Lý vào phòng trong ngồi thiền, dặn cụ thân sinh tôi ở phòng ngoài không cho ai vào, giờ cơm nước thì cụ ra và hai người dùng cơm. Cụ Lý dự định tĩnh tâm trong vòng 2 tuần để chiêm nghiệm tình thế. Đến tuần thứ 2 thì cụ Lý nói với cụ thân sinh tôi là xong rồi, chuẩn bị về nhà. Trước khi chia tay, cụ Lý nói với cụ thân sinh tôi đại ý: mùa thu này Việt Minh sẽ lên, thời cơ của chúng ta chưa tới, chúng ta phải rút vào bí mật. Cụ cũng cho biết sẽ chính thức ra lệnh giải tán Tổng Đảng Bộ (TĐB) đảng Duy Dân, nhưng dặn cụ thân sinh tôi chưa được cho ai biết việc này.
  • Sau khi Việt Minh lên, vào đầu năm 1946, cụ tôi ở nhà quê và tình hình hết sức căng thẳng. Một hôm có một đồng chí từ Hà Nội đi xe đạp về làng nói với cụ tôi phải ra ngay Hà Nội để gặp cụ Lý. Cụ thân sinh tôi nói với người liên lạc là cụ không thể đi được vì chắc chắn sẽ bị theo dõi và sẽ lộ ra chỗ ở của cụ Lý. Ngày hôm sau, người liên lạc trở về làng lấy ở trong xe đạp ra một cuộn giấy nhỏ, mở ra chưa bằng một bàn tay, chữ viết li ti. Đó là chỉ thị của cụ Lý chính thức giải tán TĐB và chỉ thị mọi nơi rút vào bí mật, tự động hoạt động theo đúng kế họach chung, không cần chờ lệnh của ai. Sau đó tình hình hết sức nguy kịch, cụ tôi phải di chuyển và ẩn trốn nhiều nơi trước khi ra được Hà Nội. Do đó chỉ thị kia đã không còn giữ lại được.
  • Năm 1965, một đồng chí của cụ thân sinh tôi kể rằng từ 1946 đến 1950, ông này theo LĐA lên sống tại vùng biên giới Lào-Việt, đến 1950 thì được LĐA ra lệnh tất cả những người theo ông phải trở về Hà Nội, ông chỉ giữ lại một ít người cùng theo ông vượt qua biên giới sang đất Lào, và dặn chỉ được tiết lộ việc này từ sau năm 1965. Từ đó ông này không nghe tin tức gì nữa.
  • Trong thời gian bị giam tại Chí Hòa (1979-1988), tôi ở tù chung với ông Cao Dao, nhà báo, chuyên viên tình báo. Ông này cho biết thời kỳ cụ LĐA còn mang tên là Nguyễn Hữu Thanh, thường đến đọc sách ở Thư Viện Quốc Gia tại Hà Nội. Buổi trưa, ông Thanh thuờng ra ngồi dưới gốc cây ngoài sân nói chuyện với một vài sinh viên, trí thức trẻ như Nghiêm Xuân Hồng, Lê Ngọc Chấn… về các cuốn sách ông ta đã đọc. Ngô Đình Nhu lúc đó đang là Thủ thư, thỉnh thoảng cũng tham gia các buổi nói chuyện này và tỏ ra khâm phục. Khi ông Nhu lập đảng và làm báo để vận động cho ông Ngô Đình Diệm, có nhờ Cao Dao đi tìm ông Nguyễn Hữu Thanh nhưng không được. Khi ông Ngô Đình Diệm chấp chánh và ông Nhu làm Cố vấn chính trị, ông Nhu lại nhờ Cao Dao đi tìm LĐA. Một lần Cao Dao qua Lào, có dịp gặp được một sĩ quan cấp Tướng người Việt Nam trong quân đội Hoàng Gia Lào. Người này là một cán bộ Duy Dân mà Cao Dao có quen biết khi còn ở Hà Nội. Cao Dao hỏi chuyện, được biết ông này theo LĐA sang Lào, và được LĐA dặn tham gia quân đội Lào. Cao Dao hỏi về LĐA thì ông ta nói không biết gì, hình như LĐA đã sang Miến Điện, và cho Cao Dao tên một người ở Miến, hy vọng có thể biết chỗ ở của LĐA. Một lần khác có dịp sang Rangoon, Cao Dao tìm đến người kia, lúc đó đang là chủ một tiệm sửa xe gắn máy. Người này chối, nói không biết gì, sau gặng hỏi mãi và nhắc đến người sĩ quan ở Lào, thì chỉ được ông này cho biết LĐA đã lên vùng núi phía Tây Bắc Miến Điện đã từ lâu và ông ta không biết thêm gì nữa.

    Ông Lý Trường Trân (phải) và ông Hà Thế Ruyệt.
    (Hình tư liệu của ông Hà Thế Ruyệt).

  • Năm 1987, Trần Thị Thức, khi đang bị CS giam tại trại giam Phan Đăng Lưu (khám Gia Định cũ) vì tội “liên lạc người nước ngoài và tham gia tổ chức vượt biên” thì được ông Lý Trường Trân, cựu Dân Biểu VNCH, cũng đang bị CS giam giữ trong biệt giam trước mặt phòng giam của Trần Thị Thức, cho biết là cụ LĐA còn sống.
  • Năm 1993, Đoàn Viết Hoạt, sau khi bị kết án 20 năm tù giam, bị đưa lên trại lao động cải tạo Hàm Tân, gặp được ông Lý Trường Trân, hỏi về việc này. Ông Lý Trường Trân cho biết trước 1975, khi ông Vũ Văn Mẫu còn làm Ngoại trưởng VNCH, trong một lần công du Népal, được một người Việt ở đó cho xem một tấm hình chụp ba người đứng dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn. Người này chỉ vào một người trong tấm hình và nói đó là Lý Đông A, hiện đang tu trên núi Hy Mã Lạp Sơn đấy.
  • Cụ thân sinh ra tôi đã mất từ năm 1986, nên cụ không được biết điều này. Biết đâu đây chẳng là sự thật như lá số tử vi cụ đã xem, mà cụ tin chắc là của LĐA.

(Nhiên Hòa soạn, 2010)

_____________________________________

Lá Số của LĐA theo Thái Nhâ(Cụ Lang Nhân)

Trong quyển số tử vi gia đình, Cụ Lang Nhân có lưu lại lá số của cụ LĐA như sau:

“Kiểm nghiệm và xét lại môn Tứ trụ, thấy Tiên sinh mệnh (năm) Canh Thân này được cách Tài Sát cách. Dụng thần là Hoả – Tài thần, ngày sinh là Nhâm Dần, tháng là Mậu Tý mà giờ là Đinh Mùi. Mậu Thất sát hiện ra ở Nguyệt can, Đinh Hoả chính Tài hiện ra ở thời can (can của giờ) toạ Mùi trong có Đinh. Trong Dần có Bính Hoả và là Dần Mộc sinh Hoả, chỉ vì Nguyệt lệnh là Tý vượng Thuỷ, lại hội với Thân niên có Canh Kim, Thân – Tý (Thân) là Trường sinh của Thuỷ, (Tý) là Đế vượng của Thuỷ lại hội thành Thuỷ cục.

Do đó Thuỷ quá vượng, Mệnh quá cường kiện cho nên phải vào Nam phương Hoả vượng Thổ cường, Thân và Tài Sát đều khoẻ mới phát được.
______________________________________

Theo cụ Lang Nhân ghi thì ngày tháng năm sinh của Cụ LĐA là:

Âm lịch                             Dương lịch
Năm Canh Thân                    1920
Tháng Mậu Tý (11)                  12
Ngày Nhâm Dần  (01)              10
Giờ Đinh Mùi                   13:00 – 15:00

Dương Lịch – Âm Lịch & Bát Tự
Năm Tháng Ngày Giờ
1920 12 10 (Thứ Sáu) 14:00 (VN)
Canh Thân
Mộc
Mậu Tý
Hỏa
(11 Đủ)
Nhâm Dần
Kim
(Mồng 1)
Đinh Mùi
Thủy

<=====  Ký Trình – Thống Nhất Các Đảng Phái Quốc Gia

Hiệu triệu kháng chiến  =====>